• Uncategorized
  • 0

Người Sài gòn

Thành phố Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, đã 300 tuổi, liệu đã thành tạo một “Người Sài Gòn” chưa? Sài Gòn trong thời cận hiện đại cũng là một trung tâm văn hóa – kinh tế lớn của đất nước và khu vực, 300 năm văn hóa có chăng đã kết tụ một “người Sài Gòn”.

“Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức viết vào khoảng năm 1820, có đoạn “Vùng Gia Định nước Việt Nam, đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời, Người tứ xứ, nhà nào tục nấy. Đất thuộc sao Dương Châu, gần Mặt trời, khí hậu nóng bức, nên người Gia Định trọng tiết nghĩa…”. Ở đoạn tiếp sau, viết: “Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trọng nghĩa khinh tài rất nhiều, giai nhân mỹ nữ cũng lắm…”

John White, một du khách người Anh đến Sài Gòn vào đầu những năm hai mươi của thế kỷ mười chín. Khi trở về Luân Đôn, năm 1824 ông cho xuất bản sách “A voyage to Cochinchina”, trong sách, ông ghi lại một số cảm nhận của người dân ở Sài Gòn: “Nhiều phụ nữ đẹp rất đúng mực và có nước da đặc biệt tươi sáng, cử chỉ của họ rất quyến rũ mà không có gì là thiếu đứng đắn…”. Sau khi đi dạo phố về, tác giả viết: “Chúng tôi rất thỏa mãn về tất cả những gì chúng tôi nhìn thấy, mang theo cảm tưởng tốt đẹp nhất về phong tục và tính tình của dân chúng. Những sự ân cần, lòng tốt và sự hiếu khách mà chúng tôi thấy đã vượt quá cả tất cả những gì mà chúng tôi đã quan sát đến nay tại các quốc gia châu Aá, khiến chúng tôi không thể tưởng tượng một dân tộc như vậy lại có thể khác được…”

Năm 1937, nhà văn Hồ Biểu Chánh, một thời nổi tiếng ở miền Nam với lối hành văn “rất Nam bộ” đã miêu tả lại cảnh chợ đêm ở Sài Gòn, có cảnh như sau: “Tại các cửa lớn, người ta tụ lại chật nức, trai chải đầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà khói bay tưng bừng, mẹ dắt tay bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đức theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi, tốp chen lấn mua giầy, tốp ùng ùng vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng, chung lộn với kẻ bình dân lao động không ai ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở…”

Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh cũng giống với Hà Nội, là nơi quy tụ của nhiều nguồn người dân. Hà Nội là chốn kinh kỳ, thuở xa xưa bốn phía là bốn trấn, Hà Nội dân bốn trấn về làm ăn sinh sống, cái mà dân gian gọi là “dân tứ chiếng”. Đất Sài Gòn xưa cũng là nơi quy tụ của dân từ nhiều nơi trong nước. Sách Phủ biên tập lục của Lê Quý Đôn cho biết chúa Nguyễn đã chiêu mộ những người “có vật lực” từ xứ Quảng Nam, xa hơn là Trung và Bắc Trung bộ đến khẩn hoang lập ấp. Người đến Sài Gòn trong buổi ban đầu ấy đủ các thành phần, những người “có vật lực”, nông dân nghèo đói vì mất đất, mất mùa vì chiến tranh, thợ thủ công, thương nhân tìm nơi làm ăn buôn bán, binh lính đồn trú, quan lại được bổ nhiệm (phần nhiều trong số này đến vùng Sài Gòn – Gia Định thường là bị Nhà nước “kỷ luật”), những tội nhân bị lưu đày, và cả những tội phạm trốn tránh truy nã và cả những kẻ du đảng… Các “tứ chiếng” của Sài Gòn “rộng” đến như vậy, có khác với Hà Nội.

Trong số những người nước ngoài đến Sài Gòn sớm nhất và đông nhất phải kể đến là người Trung Hoa, mà con cháu của họ hôm nay đã hội nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam với tên gọi “người Hoa” và là công dân Việt Nam. Đó là những người ở duyên hải phía Nam Trung Hoa, bao gồm nông dân, thợ thủ công, thương nhân, quan lại, binh lính… Họ đến Sài Gòn – Gia Định với nhiều lý do, mà chủ yếu là tìm đất sống, vì không chịu thần phục chính quyền đương thời, đặc biệt là một số quan lại binh lính của TrầnThượng Xuyên, Dương Ngạn Định hy vọng có dịp “phản Thanh, phục Minh”. Những di dân người Hoa không chỉ góp phần tích cực cho sự hình thành và phát triển thành phố Sài Gòn xưa, mà còn góp phần vào sự định hình “con người Sài Gòn”. Những yếu tố văn hóa Hoa trong văn hóa Nam Bộ có khác với Bắc Bộ, bởi tác động của những lưu dân người Hoa này. Những yếu tố văn hóa từ bên ngoài tác động vào Sài Gòn trong thời gian đầu phải kể đến trước tiên là văn hóa Trung Hoa từ những lưu dân người Hoa nhập cư. Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “Gia Định là đất Việt Nam mới khai thác, lưu dân nước ta cùng với người Đường (…), người Tây Dương (tức các nước Pháp, Anh,… các nước ở châu Âu khác), người Cao Miên, người Java, Malai… chung sống với nhau đông đảo và phức tạp…”.

Nửa thế kỷ hơn, trước khi Sài Gòn ra đời, những lưu dân người Việt đầu tiên đó không phải sống đơn độc. Đất Sài Gòn – Gia Định trước năm 1689 không phải hoang hóa, những nhà Sử học, Khảo cổ học, Dân tộc học đã chứng minh sự hiện diện một lớp cư dân cổ, nhưng cư dân bản địa, mà con cháu họ sau này này là các dân tộc ít người còn ở Đông Nam Bộ như Khmer, Stiêng, Mạ, Châu Ro… Định cư và khai thác mảnh đất Sài Gòn – Gia Định, lúc ban đầu, những lưu dân người Việt hẳn đã gặp gỡ và chung sống với các dân tộc ít người này trong một số thời gian dài. Quan hệ lưu văn hóa giữa người Việt và các dân tộc anh em đã góp vào việc hình tạo “người Sài Gòn” từ thuở ban đầu.

Để hình tạo một “người Sài Gòn”, không thể không nói đến môi sinh địa lý của Sài Gòn. Cái khác nhau của con “người Hà Nội” và “người Huế” cũng là cái khác nhau của thiên nhiên, địa lý hai nơi đó, cái khác nhau giữa sông Hồng và sông Hương, khác nhau giữa một vùng thuộc trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, và vùng đất núi đồi xứ Huế – Trị Thiên… Sài Gòn có cái thiên nhiên riêng khác so với Hà Nội, Huế. Sài Gòn gần đường xích đạo, nói như Trịnh Hoài Đức là “Gia Định có vị trí Nam phương dương minh…”. Sài Gòn thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, nên độ nóng và ẩm cao, thuận lợi thực động vật sinh sôi phát triển. Khí hậu Sài Gòn có hai mùa rõ rệt: mưa và khô. Về mặt cấu tạo địa chất, Sài Gòn nằm trên giới phân tuyến vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, nơi tiếp giáp đồi núi và đồng bằng, nên có vùng đất cao ở phía Bắc, còn phía Nam và Đông Nam đất thấp dần, có nhiều kinh rạch đầm lầy. Sông Sài Gòn là dòng sông trẻ, nối Sài Gòn với biển. Nhờ sông Sài Gòn, nên thành phố Sài Gòn nằm sâu trong nội địa hơn 60km mà vẫn là một cảng biển lớn, thuận tiện cho tàu biển ra vào. Sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch thành phố chịu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều. Chính cái thiên nhiên của Sài Gòn đó, ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống, phong cách của người Sài Gòn. Ở đây, ông Trịnh Hoài Đức có lý khi viết: “phương Nam thuộc quẻ Ly, hành hỏa, là quẻ có tượng khí văn minh, cho nên nơi đây kẻ sĩ thì chuộng điều nghĩa, quý việc học hành, người dân thì siêng năng trồng trọt chăn nuôi, làm nghề thủ công và buôn bán. Tuy nhiên, địa cực phương Nam chịu ảnh hưởng của sao Dương châu Dương tức phát dương, chỉ tính khí nóng nảy, bồng bột, nông nổi…”.

Thế nếu có “người Sài Gòn”, thì người Sài Gòn đó là như thế nào?

Quả thực đem câu hỏi này, hỏi người Hà Nội, người Huế, e cũng khó trả lời rành rẽ. Ông Trịnh Hoài Đức và sau này là Nguyễn Đình Chiểu đã đôi lần khẳng định cái đặc sắc của người Sài Gòn, ấy là “Trọng nghĩa khinh tài!”. Quả thực để nói về tính cách, đặc điểm của một “con người” không dễ, có cái chung và cái riêng. Cái chung ấy, dù là người Hà Nội, người Huế, hay người Sài Gòn cũng đều là người Việt Nam cả, còn cái riêng là cái để nhận biết của mỗi người. Cái riêng của người Sài Gòn là thể hiện của cái chung trong điều kiện tự nhiên, xã hội và lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Những dòng viết này tôi không hướng tới một lý giải về người Sài Gòn. Ở đây, tôi chỉ nêu hai ý nhỏ, góp vào việc tìm hiểu người Sài Gòn:

– Sài Gòn là một thành phố “mở” trẻ và năng động, vì vậy, con người Sài Gòn không dừng lại ở sự định hình, mà còn tiếp tục hoàn thiện và thích ứng. Những nhìn nhận về người Sài Gòn phải được đặt trong trạng thái động, không ngừng phát triển.

– Tôi nghĩ rằng, người Huế không phải là điển hình cho người miền Trung, người Hà Nội vẫn chưa phải là tiêu biểu cho người phía Bắc. Bởi lẽ, miền Bắc và miền Trung tính địa phương khá đa dạng và không đồng nhất, mà Hà Nội và Huế có thể được xem như một trong những địa phương đó. Trái lại, người Sài Gòn, trong một chừng mực nhất định, có thể nói là tiêu biểu cho tính cách Nam Bộ nói chung, hoặc giữa cái gọi là người Sài Gòn vời người Nam Bộ không có sự phân biệt mấy về tính cách. Nghiên cứu người Sài Gòn cần thiết phải đặt trong cái chung Nam Bộ.

(Theo PGS – PTS Phan An trong khóa học phổ thông – 1998)

Người Sài Gòn xưa & nay

Trịnh Hoài Đức đã nhận xét: “Gia Định ở Nam Việt đất rộng, vật thực nhiều, không lo sự đói kém, rét mướt, nên người dân ít tích lũy, tập tục xa hoa, sĩ khí hiên ngang… Gần Mặt trời khí thiêng hưng phát, trung chính văn minh. Nên con người chuộng tiết nghĩa, học sách Tứ thư, Ngũ kinh, Thông giám thì tìm hiểu nghĩa lý…”11. Thiên nhiên Sài Gòn, có những mặt ưu đãi con người, “vật thực nhiều, không lo sự đói kém, rét mướt”… đó là nơi “gạo trắng nước trong”, nên con người Sài Gòn có nếp sống khá thoải mái. Đã một thời người xưa coi Sài Gòn như là một chuẩn mực cho những người lịch lãm, từng trải:

Làm trai cho đáng nên trai
Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng

Người Sài Gòn, ngay từ sớm đã có chí làm ăn lớn, đã biết đến các hoạt động kinh tế mang tính hàng hóa. Lê Quý Đôn trong sách Phủ biên tạp lục (quyển 6) đã nhận xét: “Đất Đồng Nai bằng phẳng, thổ địa phì nhiêu… mỗi nhà có thể mướn 50, 60 người cày ruộng và nuôi đến hàng 300 – 400 con trâu bò, cày bừa, cấy gặt rộn ràng không rỗi, hàng năm đến tháng mười một, mười hai thường giã gạo, bán lấy tiền ăn Tết, chạp. Từ tháng giêng trở đi, không làm công việc xay giã. Bình thời, chỉ đem gạo ra Phú Xuân đổi lấy hàng Bắc, lụa lãnh, trừu đoạn, quần áo tốt đẹp…”.

Năm 1821, ông Finlayson dẫn đầu một phái bộ Anh quốc đến tìm kiếm cơ hội giao thương, đã nhận xét về người dân Sài Gòn: “Quần chúng nhân dân rất lịch sự, có trật tự, có tư cách hay kính nhường. Thật là vừa lý thú, vừa bất ngờ với chúng tôi. Ai nấy đều ăn mặc tử tế. Họ nhỏ thó người, nhanh nhẹn, mặt tròn có những nét đặc sắc… Chúng tôi có cảm giác rất tốt đẹp về phong tục và cử chỉ của nhân dân. Sự ân cần, tính rộng lượng và lòng hiếu khách mà chúng tôi đã gặp, vượt xa những gì mà từ trước đến nay chúng tôi đã thấy ở các nước châu Á khác”.

Tầng lớp trí thức Sài Gòn cũng có một phong cách sống khá gần gũi với giới bình dân. Những thơ ca thi vịnh của nhóm Gia Định tam gia thi, Bình Dương thi xã ca ngợi cảnh đẹp, con người Sài Gòn, nhà thơ và dân chúng như hòa quyện vào nhau.

Con người Sài Gòn vốn năng động, chịu khó làm ăn, biết cách làm ăn lớn, nhưng vẫn giữ được cái dáng vẻ ung dung thư thái:

Trong cái buổi Sài Gòn ban đầu ấy, tuy gọi là thành thị nhưng dáng vẻ của thôn dã vẫn còn đậm nét đó đây, cái cảnh người nông phu trở về trong sự bình yên thanh thản, đã để lại dấu ấn cho người Sài Gòn về sau này. Người Sài Gòn có cái sự chân phương cởi mở. Nhiều câu chuyện dân gian, nhất là những sự tích của các địa danh Sài Gòn như sự tích sông Nhà Bè (hay truyện Thủ Huồng), cầu Thị Nghè, đồng Ông Cơ… cho thấy con người Sài Gòn xưa luôn hướng về cái thiện, về cộng đồng, gắn bó với một vùng đất mới. Trên bình diện văn hóa, Sài Gòn cũng là nơi sớm hình thành các nhóm thi ca, các sinh hoạt văn học nghệ thuật.

Sinh hoạt văn học nghệ thuật của Sài Gòn – Gia Định trong dân gian cũng rất phong phú. Vào dịp cúng đình, thường có hát bội phục vụ cho dân làng suốt ba đêm. Bộ phận người Hoa ở Sài Gòn cũng có những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc: “Phía Tây đường lớn ở đầu phía Nam có hội quán Chương Châu, hễ gặp tiết đẹp, đêm trăng, các ngày tam nguyên, sóc vọng, thi treo đèn đặt bàn, đua tranh kỳ xảo, trông như cây lửa, cầu sao thành gấm vóc, hội quỳnh dao, trống kèn huyên náo, trai gáo dập dìu”.

(300 năm SG-TP.HCM – NXB CTQG-1997)

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *