• Uncategorized
  • 0

Địa lý tự nhiên

I. Vị trí địa lý

Lãnh thổ Sài Gòn có tọa độ địa lý 10 độ 22’33″ – 11 độ 22’17″ vĩ độ bắc và 106 độ 01’25″ – 107 độ 01’10″ kinh độ đông với điểm cực bắc ở xã Phú Mỹ (huyện Cần Giờ), điểm cực tây ở xã Thái Mỹ (Củ Chi) và điểm cực đông ở xã Tân An (huyện Cần Giờ). Chiều dài của thành phố theo hướng tây bắc – đông nam là 150 km, còn chiều tây – đông là 75km. Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 59km đường chim bay. Thành phố có 12km bờ biển cách thủ đô Hà Nội 1730km (đường bộ) về phía Nam.

Diện tích toàn Sài Gòn là 2056,5 km2, trong đó nội thành là 140,3km2, ngoại thành là 1916,2km2. Độ cao trung bình so với mặt nước biển: nội thành là 5m, ngoại thành là 16m. Trên bản đồ, thành phố có hình dạng dài, nằm chếch theo hướng Tây Bắc-Đông Nam. Chiều dài nhất từ Củ Chi đến Duyên Hải là 150km. Chiều ngang nơi rộng nhất từ Thủ Đức đến Bình Chánh đo được 50km. Nơi đẹp nhất giữa Nhà Bè và Duyên Hải: 6,5km.

Trên bản đồ Nam Bộ, thành phố nằm ở nơi tiếp giáp giữa hai vùng:

– Vùng phù sa cổ sinh, cao, địa hình mấp mô, thường gọi là miền Đông Nam Bộ.

– Vùng đồng bằng phù sa thấp, bằng phẳng, được sông Cửu Long và sông Đồng Nai bồi đắp trải dài từ thành phố đến Cà Mau.

Do vậy, thành phố đã là nơi giao tiếp và trao đổi giữa hai vùng. Địa bàn của thành phố một phần nằm trên vùng đất cao (các quận 1,3,5,10,11, Phú Nhuận, Tân Bình, các huyện Hóc Môn, Củ Chi, một nửa huyện Thủ Đức và Bình Thạnh), và một phần nằm trên đất phù sa mới (các quận 4,6,8 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Duyên Hải, một phần Thủ Đức và Bình Thạnh).

Sông ngòi: Con sông quan trọng nhất chảy qua thành phố là sông Đồng Nai và sông Sài Gòn. Sông Đồng Nai dài 589km, do hai nhóm Đa Dung và Đa Nhim bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (cao 1.500m) hợp thành. Sông Đồng Nai có thêm một phụ lưu bên tả ngạn là sông La Ngà. Từ cao nguyên đổ xuống vùng đồng bằng, sông chảy qua nhiều gành thác. Qua thác Trị An là thác cuối cùng, sông chảy uốn khúc giữa vùng đồng bằng, tiếp nhận thêm nước Sông Bé, rồi gặp sông Sài Gòn ở Nhà Bè (Sông Sài Gòn phát nguyên từ vùng Hớn Quản, chạy qua địa phận Tây Ninh, Sông Bé, rồi vào thành phố). Từ Nhà Bè, sông Đồng Nai chia thành nhiều nhánh chảy qua vùng rừng Sác (huyện Duyên Hải) để đổ ra biển ở vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái. Trong các phân lưu đó, quan trọng nhất là sông Lòng Tàu. Đó là con đường tàu biển các nước ra vào cảng Sài Gòn..

Trên địa bàn thành phố có nhiều rạch nhỏ đổ vào sông Sài Gòn, sông Đồng Nai như rạch Láng Thé, rạch Tra, rạch Bến Cát, rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé, rạch Phú Xuân và một số kinh đào như kinh Tham Lương, kinh An Hạ, kinh Thái Mỹ, kinh Đông (dẫn nước từ hồ Dầu Tiếng về Củ Chi)… Quan trọng nhất là rạch Bến Nghé. Đây là đường giao thông quan trọng. Trên bờ rạch Bến Nghé năm 1778 nhóm người Hoa từ cù Lao Phố và Mỹ Tho đã kéo về lập nên phố chợ buôn bán. Khu chợ búa đó phát triển thành Chợ Lớn ngày nay. Rạch Bến Nghé là bến cảng tiếp các thuyền buôn các nơi đến buôn bán với Sài Gòn-Chợ Lớn. Hai bên bờ rạch là các bến ghe: Bến Chương Dương, Bến Vân Đồn, Bến Hàm Tử, Bến Bình Đông, Trần Văn Kiêu. Rạch Bến Nghé là khởi đầu của các con đường thủy nổi Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Rạch Thị Nghè ăn lên Bàu Cát. Khúc ngọn này còn có tên là rạch Nhiêu Lộc (ông Nhiêu học tên là Lộc). Ngày xưa rạch Thị Nghè là nơi cảnh trí nên thơ. Bài Phú “Cổ Gia Định” đã mô tả: “Lối ngoài cạnh Bà Nghè dòng trắng hay hay tờ quyến trai…”. Rạch Thị nghè một thời gian dài được xem là ranh giới của thành phố. Đầu thời Pháp thuộc thực dân Pháp đào kinh Bao Ngạn nối với rạch Thị Nghè để ngăn cách thành phố với vùng chung quanh. Năm 1945 thực dân Pháp tái chiến Sài Gòn, quân Việt Nam cũng dựa vào con rạch này làm chiến tuyến để ngăn không cho chúng lấn chiếm ra vùng ngoài thành phố. Các trận đánh ở cầu Thị Nghè, cầu Bông, cầu Kiệu, (9-1945) đã đi vào lịch sử thành phố Rạch Thị Nghè cũng là đường giao thông của ghe thuyền buôn bán đến chợ Thị Nghè, chợ Xã Tài (chợ Phú Nhuận).

Ngoài ra trên địa bàn quận I còn có một vài con kinh ngắn ngày xưa có vai trò khá quan trọng, nay không còn nữa: Con kinh chạy thẳng từ bờ sông Sài Gòn đến trước Ủy ban Nhân Dân thành phố ngày nay. Kinh khá to, hai bên bờ có đường rộng. Ghe thuyền các nơi đậu buôn bán tấp nập. Chợ Bến Thành trước kia được thực dân Pháp cho lập bên bờ kinh này trước khi dời về vị trí hiện tại (năm 1814). Một nhánh của con kinh chảy qua vị trí Nhà Hát thành phố đến Thảo Cầm Viên rồi chảy vào rạch Thị Nghè. Năm 1884, Pháp cho lấp phần từ đường Lê Lợi đến đường Mạc Thị Bưởi ngày nay. Phần còn lại thì cẩn đá hai bên bờ, từng đoạn có xây bực thang cho ghe thuyền đưa hàng hóa lên xuống. Năm 1887-1888 kinh này được lấp hẳn. Đường Hàm Nghi cũng được hình thành trên một kinh nhỏ được lấp lại.

II. Khí hậu – Thời tiết – Lượng mưa

Đặc điểm chung của khí hậu Thành phố là khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo nên nhiệt độ cao và khá ổn định trong năm. Số giờ nắng trung bình tháng đạt từ 160-270 giờ. Độ ẩm không khí trung bình là 79,5%. Nhiệt độ trung bình năm là 27,55 OC (tháng nóng nhất là tháng Tư, nhiệt độ khoảng 29,3 OC)

Mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười Một. Những cơn mưa thường xảy ra vào buổi xế chiều. Mưa to nhưng mau tạnh, ít khi mưa rả rích kéo dài suốt ngày. Lượng mưa bình quân năm 1979mm. Số ngày mưa trung bình năm là 159 ngày (>90% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa). Đặc biệt những cơn mưa thường xảy ra vào buổi xế chiều, mưa to nhưng mau tạnh đôi khi mưa rả rích kèo dài cả ngày. Mùa nắng từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,9oC. Tháng 3,4,5 là thời gian nóng nhất trong năm; nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 28o, có những ngày nhiệt độ lên đến 34o. Còn những tháng khác nhiệt độ trung bình thay đổi trong khoảng 26o đến 27o. Ở thành phố không có mùa lạnh.

Nói chung, Thành phố nằm ở khu vực ít bị ảnh hưởng trực tiếp của gió to, bão lớn. Tuy nhiên, từ tháng Năm đến tháng Tám thường có xuất hiện những cơn bão gây thiệt hại đáng kể trên diện tích hẹp.

III. Dân số – Các đơn vị hành chính

Thành phần chủ yếu của cư dân Sài Gòn – Chợ Lớn từ cuối thế kỷ 18 đến thế kỷ 19 là người Việt từ miền Trung, miền Bắc đến đây khai khẩn, cư trú, lập chợ, mua bán. Về sau một số người ở miệt Lục tỉnh lên. Ngoài người Việt ra, còn có một số bộ phận người Hoa, phần lớn là thần dân nhà Minh rời bỏ quê hương di cư đến đất Đồng Nai, trú ở Cù Lao Phố (Biên Hòa). Sau những trận chiến giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh, người Hoa lại rời bỏ nơi này đi về vùng Chợ Lớn lập nghiệp, bên cạnh Sài Gòn.

Hiện nay, Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh có số dân đông nhất trong các tỉnh, thành của cả nước. Năm 1994, thành phố có mật độ trung bình 2282 người/km2.

1. Giao thông – Vận tải:

Sài Gòn là đầu mối giao thông lớn của Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Từ đây, mạng lưới giao thông đường bộ tỏa đi khắp nơi: theo quốc lộ 22 đến Tây Ninh, theo quốc lộ 51 đến Vũng Tàu, theo quốc lộ 20 đi Đà Lạt, theo quốc lộ 1 A đến miền Tây và miền Trung nước ta.

Sài Gòn có mối quan hệ với các tỉnh và vùng phụ cận bằng hệ thống quốc lộ, liên tỉnh lộ và tỉnh lộ ngoài ra Thành phố có hệ thống đường trục và đường vành đai.

Về hiện trạng mạng lưới giao thông trong nội bộ Thành phố, chiều dài của mạng lưới này khoảng 1500km với 105 đường 1 chiều, 1.020 giao lộ (457 ngã ba, 543 ngã tư, 10 ngã năm, 9 ngã sáu và 2 ngã bảy), 210 cầu với tổng chiều dài là 11.000 m.

Về đường sắt, thành phố có 4 ga xe lửa – lớn nhất là ga Trung tâm Sài Gòn.

Về đường thủy, thành phố có tổng chiều dài tuyến đường sông là 2035km, trong đó có 432km ở khu vực thành phố có thể cho tàu, xà lan trọng tải 600 – 1000 tấn qua lại dễ dàng. Hệ thống đường sông ở thành phố và phụ cận tương đối đều khắp, chủ yếu tập trung ở phía Đông và phía Nam. Thành phố có các cảng chính: cảng Sài Gòn, cảng Bến Nghé, cảng dầu Nhà Bè và Tân Cảng, cảng Tân Thuận, cảng Container khu chế xuất, .vv… Thành phố đang chuẩn bị xây dựng cảng khách để đón khách du lịch đến thành phố bằng đường thủy.

Khách du lịch quốc tế đến Sài Gòn chủ yếu bằng đường hàng không. Vì vậy, hàng không có vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch thành phố. Tại Sài Gòn, sân bay Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất ở các tỉnh phía Nam và là một trong 2 sân bay lớn của cả nước.

2. Nguồn cung cấp điện:

Bao gồm các nhà máy điện, thủy điện với tổng công suất thiết ký 1.098,7 MW, chưa kể nguồn điện từ đường dây 500 KV đưa lượng điện thế về thành phố hàng năm từ 1,5 đến 2 tỷ Kwh.

3. Cấp thoát nước:

Nhà máy nước Thủ Đức với công suất 650.000 m3/ngày, nhà máy nước ngầm Hóc Môn giai đoạn 1 cho 20.000m3/ngày. Ngoài ra có 27 giếng nước ngầm cho trên dưới 100m3/giếng/ngày. Thành phố đang có dự án xây dựng mới hai nhà máy nước và hệ thống xử lý nước hiện đại.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *