• Uncategorized
  • 0

Vị linh mục với bộ sưu tập đèn cổ và sách cổ lớn nhất Việt Nam

Nép mình sau lưng nhà thờ Tân Sa Châu, gian phòng nhỏ của linh mục Nguyễn Hữu Triết là một thế giới u tịch của các loại đồ cổ: bên cạnh gần 400 chiếc đèn cổ còn có khoảng 1.000 cuốn sách cổ, mấy bộ bàn ghế ở tuổi bách niên, một chiếc xe ngựa cổ và một chiếc xe bò của… “muôn năm cũ”.

Lý giải về niềm đam mê những giá trị cổ xưa này, linh mục Nguyễn Hữu Triết cho rằng, có lẽ đó là do ảnh hưởng của truyền thống gia đình. Bố ông là một thầy đồ, vừa dạy học vừa bốc thuốc ở làng Ngọc Lý, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương. Nhà nghèo, chẳng có nhiều vật dụng đáng giá nhưng có hai món đồ mà lúc nào ông cụ cũng gìn giữ, nâng niu như bảo vật. Đó là bộ ấm chén men lam và chiếc điếu cày đời Đạo Quang (Trung Quốc). Năm thì mười họa có khách quý đến thăm, ông cụ mới mang ra dùng. Xong việc lại gói đem cất rất kỹ, không cho bất kỳ ai được đụng đến.

Thái độ cẩn trọng đó để lại bao thắc mắc trong cậu con trai nhỏ,và lâu dần thành một nỗi ám ảnh không dứt. Chính vì lẽ đó, linh mục Triết cho rằng, ý thức về giá trị những món đồ cổ và nỗi đam mê sưu tập cổ vật của ông có một ít căn nguyên được hình thành từ những “ám ảnh tuổi thơ” như vậy.

Hành trình đi tìm những chiếc đèn cổ bị tuyệt tích

Ông bắt đầu “chơi” đèn từ khoảng 10 năm nay. Căn phòng ông đang dùng để chứa 400 chiếc đèn cổ vốn là nơi ở của một vị linh mục già trong giáo xứ. Một điểm rất lạ là các bức tường của căn phòng đều được vị linh mục già trang trí bằng hình những chiếc đèn. Khi mất đi, vị linh mục ấy để lại cho linh mục Nguyễn Hữu Triết “tài sản” là căn phòng, vài ba bức tượng, những tấm ảnh cũ cùng khoảng chục chiếc đèn xưa. Từ những chiếc đèn “gợi ý” ban đầu ấy, ông bắt đầu bỏ công sưu tập. Qua 10 năm, nay ông đã có bộ sưu tập đèn cổ lớn nhất nước.

Trong thế giới những người chơi đồ cổ ở Việt Nam, linh mục Nguyễn Hữu Triết và bộ sưu tập đèn cổ của ông mặc nhiên có 3 cái nhất – người chơi đèn cổ duy nhất, (kéo theo) số lượng đèn nhiều nhất và những chiếc đèn xưa nhất. Ở đây, cùng với số lượng đồ sộ, chất liệu cấu tạo các loại đèn cũng đa dạng và phong phú vô cùng. Cái thì được làm bằng đất nung, cái thì làm bằng kim loại (chủ yếu là đồng). Có cái bằng thủy tinh, lại có cái bằng gốm, sứ. Xưa nhất là chiếc đèn Đông Sơn có niên đại từ 2.000 – 2.500 năm trước, tiếp đó là những chiếc đèn Chăm có từ thế kỷ X-XII, kế đến là các loại đèn xuất hiện trong các thời đại nhà Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Còn những chiếc gần nhất cũng đã cách đây khoảng… 30-40 năm, với rất nhiều tiêu bản.

Xét về phạm vi sử dụng, ngoài những chiếc đốt sáng cho mục đích “trang trí nột thất”, còn có các loại đèn bão sử dụng trên tàu thủy, xe lửa, xe hơi, xe ngựa, xe đạp…  nhưng không chiếc nào giống chiếc nào. Cây đèn cao nhất đến 1,5 mét của Ấn Độ có từ đầu thế kỷ XX và thắp được thành 5 ngọn lửa lớn. Cây đèn to nhất xuất xứ từ Pháp sản xuất năm 1914, dung tích chứa được đến… (chính xác) 7,5 lít dầu. Còn có giá trị “về mặt tài chính” nhất là chiếc đèn sứ thời Đạo Quang (Trung Quốc) ông mua với giá 10 triệu đồng. Tất cả những chiếc đèn trong bộ sưu tập này, theo linh mục Triết cho biết, đều đốt bằng các loại nhiên liệu lỏng như dầu lạc, dầu hỏa, mỡ động vật, xăng…

Gần 400 hiện vật, một bộ phận là các loại đèn của dân tộc Việt Nam, còn lại xuất xứ từ Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, châu Âu (Pháp, Đức, Anh…) và châu Mỹ. Song, hầu hết đều được ông lùng mua tại Việt Nam. Khi thì ông mua ở những phố, những tiệm bán đồ cổ, khi thì từ những người chuyên sưu tầm cổ vật, lúc thì ông mua được từ những người gánh… ve chai. Duy nhất có một chiếc đèn sứ cổ được mua từ Mỹ. Nhưng đấy lại là quà của một người bạn – nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân – mua tặng ông. Còn lại, tự thân linh mục Triết đã bỏ công tìm mua ở nhiều nơi, nhiều chỗ.

Có những chiếc được ông phát hiện tình cờ. Như trường hợp một chiếc đèn gốm có hình tượng con ếch từ thời Đông Sơn, ông tình cờ mua được trong lần “săn” tìm một chiếc đèn khác. Rồi có những chiếc ông phải theo đuổi suốt 3-4 năm trời, vừa dành dụm tiền vừa nơm nớp lo người ta bán mất cho người khác.

Ông đặt tên cho bộ sưu tập đèn của mình là “Ánh sáng muôn dân”. Đèn là ánh sáng. Thời đại dẫu có tân tiến đến đâu thì ngọn lửa vẫn mãi là biểu tượng ánh sáng của nhân loại – ông nói.

Bộ sưu tập lọ nước hoa

Minh chứng cho quan niệm của mình, vị linh mục giới thiệu bộ sưu tập các lọ nước hoa mà ông đã dày công tìm kiếm nhiều năm: “Anh xem, sự làm đẹp của phụ nữ phong phú thế nào, tinh tế thế nào!”. Bộ sưu tập đã có tới hơn 1.000 mẫu lọ nước hoa, không cái nào giống cái nào. “Có thứ tôi phải bỏ ra rất nhiều tiền mới mua được nhưng cũng có cái tôi mua như mua ve chai, lắm khi để giúp người ta sống”, linh mục hãnh diện khoe.

Với hứng thú sưu tập mang hơi thở đời thường như vậy nên không ngạc nhiên khi nhiều mẫu nước hoa bậc trung cũng có mặt trong cái tủ kính lớn được đóng khóa cẩn thận, cạnh chúng lại là những lọ nước hoa Baccarat Crystal từng làm cho các bà hoàng mê mẩn.

Linh mục nói: “Có người hỏi tôi: vì sao ngài làm linh mục mà lại đi sưu tầm lọ nước hoa của phụ nữ? Tôi bảo họ, tôi sưu tầm vì chúng làm ra cho con người và vì con người”.

Tôi cũng cười và hỏi vị linh mục có nhiều đam mê với đời này: “Cha đã bao giờ… phải lòng một cô gái nào đó chưa?”. Cha Triết nói: “Tôi cũng là một con người. Không thể tránh khỏi có lúc thấy lòng mình muốn xao động. Nhưng tôi nguyện đi theo con đường đã chọn và trung thành với nó suốt cuộc đời”.

Và những món đồ cổ chất khắp nhà chính là những người bạn tri kỷ của ông. Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Triết có những cuốn sách thuộc dòng khởi đầu cho nghề in ấn bên công giáo, chẳng hạn cuốn bìa vàng của J.M.J, một cuốn sách kể chuyện Thánh bằng tiếng Việt được in năm  1872 bởi nhà thờ Tân Định. Sách này dày 525 trang, hiện chữ vẫn rất rõ và giấy vẫn còn trắng. Bộ sách in bằng chữ quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký vào thập niên 70, 80 của thế kỷ XIX cũng thuộc diện “dễ nghe, khó thấy”.

Theo linh mục, ông hiện có chừng 100 cuốn sách in từ thế kỷ XIX, một con số khiến ngay cả thư viện cũng phải quan tâm.

Ông chào tôi để lên nhà thờ, nơi các giáo dân đang đợi. Nom ông trong bộ đồ linh mục toát lên một dáng vẻ thư thái, một sự nghiêm nghị cùng những đức tin. Sau buổi lễ, ông lại trở về mấy gian phòng tràn ngập hàng nghìn món đồ cổ, đồ cũ, sách, đèn…; bận rộn cùng những “người bạn” hàng trăm, hàng ngàn tuổi. Nào là những con dao cổ, những cái bình vôi; nào là nậm rượu, lọ hoa.

Khác với những người buôn đồ cổ, linh mục Giuse Nguyễn Hữu Triết chỉ mua và lưu giữ chúng, ông hầu như không bán đi bao giờ!

(St)

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *