<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Thoáng Sài Gòn -  Tôn Vinh Nét Đẹp Người Sài Gòn &#187; Nghệ thuật cải lương</title>
	<atom:link href="http://thoangsaigon.com/category/van-hoa-nam-bo/ngh%e1%bb%87-thu%e1%ba%adt-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://thoangsaigon.com</link>
	<description>All You Need To Know About Sai gon - HCMC - VietNam</description>
	<lastBuildDate>Mon, 14 May 2012 16:01:53 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2</generator>
		<item>
		<title>Cải lương, cá tính của miền Nam</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2011/03/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-ca-tinh-c%e1%bb%a7a-mi%e1%bb%81n-nam/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2011/03/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-ca-tinh-c%e1%bb%a7a-mi%e1%bb%81n-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 20 Mar 2011 07:37:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Cải lương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=1846</guid>
		<description><![CDATA[Miệt vườn cây trái tốt tươi, món hậu đãi giữa vùng sông rạch như mê cung, một thoắt ngoắt ngang, ngẩng mặt là tràng giang nước trắng hiện ra . Ai biết thuở đầu mới chỉ có những giồng những bãi chơ vơ giữa cuồn cuộn chín cửa sông, phi thường mà vật lộn chống [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Miệt vườn cây trái tốt tươi, món hậu đãi giữa vùng sông rạch như  mê cung,  một thoắt ngoắt ngang, ngẩng mặt là tràng giang nước trắng  hiện ra . Ai biết thuở đầu mới chỉ có những giồng những bãi chơ vơ giữa  cuồn cuộn chín cửa sông, phi thường mà vật lộn chống trả với ngàn cơn lũ  để  được là giồng là bãi. Người khai khẩn hai năm một vụ rạch mương,  vật đất phù sa bồi lên để giồng bãi trở thành liếp cây ăn trái xanh tươi  chông chênh giữa bốn bề nước xối, phát hoang những trảng cỏ sình mênh  mông gieo hạt thóc; đổ mồ hôi nước mắt và cả máu, cho một đời sống, cá  tính và nhân cách riêng.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/cailuong.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1847" title="cailuong" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/cailuong.jpg" alt="" width="246" height="350" /></a><br />
<strong>Theo gươm mở cõi trời Nam</strong></p>
<p>Vở  cải lương đầu tiên được công diễn tại đất Sài Gòn Gia Định vào năm  1916. Năm 1922, cải lương Kim Vân Kiều gặt hái thành công sâu đậm trong  lòng công chúng, kể như nghệ thuật cải lương đã là cơn gió lành thấu  suốt đời sống lục tỉnh. Những cái tên đình đám đến mức huyền thoại trên  cửa miệng người dân nghiền vọng cổ, mà dân Nam thời ấy hầu hết là “dân  nghiền”, để rồi sau này trở thành nghệ danh của nhiều thế hệ tài tử :  Bảy Nam, Bảy Hiền, Minh Phụng, Kim Tử Long, út Trà Ôn&#8230; bắt đầu khởi  nghiệp từ đây. Những người làm văn hoá đã dốc lòng cho nghệ thuật cải  lương chào đời và sinh sôi như Lương Khắc Ninh, Trần Hữu Trang, Hồ Biểu  Chánh, đến nay vẫn được nhắc tới như những quý nhân trong lòng công  chúng, có lẽ vì họ, đã góp phần nhờ nghệ thuật tìm cho tâm hồn người dân  thêm một lẽ sống tồn.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/cai-luong.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1848" title="cai-luong" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/cai-luong.jpg" alt="" width="450" height="350" /></a><br />
Quân viễn chinh Pháp chiếm Nam kỳ, coi như đã ở thế đặt được  chân tươi chân chân héo trên mảnh đất khai khẩn cũng nửa héo nửa tươi.  Thiên nhiên khắc nghiệt lộng hành cuốn trôi bao công sức, đẩy hầu hết  người dân miền Nam, chỉ trừ số nhỏ có bạc nén giắt lưng, thành những kẻ  tay trắng, đầu đội trời chân đạp đất theo đúng nghĩa đen, đổ mồ hôi đổi  lấy sự sống. Tâm hồn họ thô tháp quật khởi nhưng cũng yếu mềm nhạy cảm  như đường tơ run với từng hồi gió nhẹ. Theo đức Phật Thầy Tây An, đức  Bổn sư &#8230; lập làng thờ đạo, đánh Pháp. Nao nức với Thiên địa hội, vị  nghĩa tương ái tương thân không sợ đô hộ cường quyền; đây là phong trào  ngầm lan sâu rộng thách thức chính quyền thuộc địa, cơn gió của tinh  thần và nghĩa khí miền Nam. Tinh thần ấy cùng thấm đậm trong những làn  điệu đờn ca tài tử, mà nhờ chữ Mới( quốc ngữ), nhờ cây cầu nối là những  “phú ông” nhỏ gần dân, đã từ thú tiêu dao quý tộc trở thành điệu hát của  xóm làng. Lớp trí thức Tây học Nam kỳ đầu tiên cũng là lớp người đã sốt  sắng đưa đờn ca Vọng cổ lên sân khấu chuyên nghiệp, như một tất yếu.  Giản dị, phóng khoáng, đa cảm, Cải lương là phần sâu kín trong tâm hồn  Nam bộ hảo hớn, mạnh mẽ, dễ xúc động thương tâm. Đêm thâu mùa nước nổi,  nghe một khúc Dạ cổ hoài lang ( tiếng trống thành nhớ chinh phu) hay lớp  thán của Thuý Kiều dưới trướng rượu Hồ Tôn Hiến, lại thấy vang vọng về  những nẻo xa lắm của nghìn năm trầm tích sông Hồng.</p>
<p><strong>Nghệ thuật của đời thường</strong></p>
<p>Gió  theo sóng triều lên lướt ràn rạt trên những vạt rừng tràm mới hồi sinh  non mảnh bỡ ngỡ, vẫy vùng trên thăm thẳm bời bời những sải tay cổ thụ  tràm đước dan rộng mênh mông làm thành những tiếng thâm u không dứt như  tiếng biển. Ông già Mười Đởm gác rừng U Minh Hạ néo chiếc thuyền tôn vào  cây cọc nhà sàn, chậm rãi bước lên bờ. Chỉ lát sau, ông đã đầu tóc  nguyên nếp ướt, áo quần tề chỉnh, bê theo một mâm rượu nhỏ bày ngay  trảng cỏ bờ kinh. Một cái be nhỏ, bộ chén hạt mít, đĩa muối tiêu, đậu  phộng, thơm gừng tỉa mỏng. Ông nhắc cây đờn kìm trên vách nhà, trịnh  trọng trao nó cho một thanh niên trẻ, tóc ướt mượt trong nhóm đờn ca.  ánh hoàng hôn xuống rực trong cặp mắt mở lớn của ông như còn phản chiếu  ngọn lửa cháy đỏ hôm nào&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Nghệ thuật cải lương khi đã trở thành trình thức sân khấu vững  chắc, vẫn có một con đường ngược lại, nhập vào dòng chảy đời thường, đến  tận từng ngõ ngách của cuộc sống. Nó kế thừa được cái duyên của cả Chèo  lẫn Tuồng, nhưng lời ca không hẳn gánh trách nhiệm định vị không gian  thời gian, cố định diễn tiến, khắc hoạ nhân vật mà thiên về bộc lộ giãi  bày cảm xúc nội tâm được phép rất cụ thể, tả thực, phóng khoáng và biến  đổi. Lời ca trong cải lương gần nhất với tiếng nói sáu thanh của đời  thường so với các sân khấu truyền thống khác, lại thêm một cơ duyên nữa  để nghệ thuật này tiến sát hơn những gay cấn, phức tạp cụ thể của đời  sống. Kể như đã xứng là bậc tài tử  đặng phổ vào đàn ấy những vui buồn  rày mai, những điều mắt thấy của sinh cuộc. Nhưng cốt lõi của cải lương  hay vọng cổ vẫn không phải những mâu thuẫn bề nổi của xã hội, những vấn  đề thế cuộc trực tiếp hay những xen cố tình xoáy vào cái sến hòng lấy  nước mắt người xem một cách dễ dãi. Cải lương thực sự, có thể, cần phải  là một cách phát hiện nét tâm lý sâu sắc và điển hình của thời cuộc, nét  tâm lý phần nào mang tính triết học về cuộc sống mới, hoàn cảnh hiện  tại. Chính vì thế, những gì là động tâm, nước mắt, éo le&#8230; được giãi  bày rất thoải mái thoả sức mới được đồng cảm và trở nên thấm thía.</p>
<p>&#8230;  Tiếng ca của những nghệ sĩ vùng sình đước, già có trẻ có vẫn bừng lên  quanh ngọn lửa lúc rụi lúc cao, cái lạnh khuya bắt đầu lẩn khuất. Tiếng  đàn xoáy cuộn da diết, giọng ca bảng lảng như có như không, như nhập vào  cái thực nhỏ nhoi trong cái huyễn vô cùng của rừng thiêng, mà nhói vào  tâm trí người nghe “Máu đào vẫn chảy trong tim/ cũng là nước mắt u minh  cho rừng&#8230;.. Đêm qua chớp bể mưa nguồn/ nửa đau thế sự nửa buồn thế  nhân&#8230;”</p>
<p>(Khánh Phương)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2011/03/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-ca-tinh-c%e1%bb%a7a-mi%e1%bb%81n-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Huyền thoại ông tổ và Ngày sân khấu</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/09/huy%e1%bb%81n-tho%e1%ba%a1i-ong-t%e1%bb%95-va-ngay-san-kh%e1%ba%a5u/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/09/huy%e1%bb%81n-tho%e1%ba%a1i-ong-t%e1%bb%95-va-ngay-san-kh%e1%ba%a5u/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 18 Sep 2010 00:45:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Ngày sân khấu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=793</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng. Ông tổ sân khấu là ai? Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="PublishingImage_Container" style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #808080;">Ngày 12.8 âm lịch được chọn là Ngày  sân khấu Việt Nam, đó cũng chính là ngày giỗ tổ sân khấu hằng năm mà  giới làm nghề phía Nam đều tổ chức trang trọng.</span></strong></div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ông tổ sân khấu là ai?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cho đến bây giờ không người nào trả lời được chắc chắn câu hỏi trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo NSND Đinh Bằng Phi thì truyền thuyết được biết nhiều nhất là có  một nhà vua không có con nên làm lễ cầu xin Trời Phật ban phúc. Mỗi khi  làm lễ, có một người giả làm thần vừa múa hát vừa bay lên trời dâng sớ.  Thế là hoàng hậu sinh hạ hai vị hoàng tử. Để tạ ơn trời, hằng năm vua  đều cho diễn lại lễ ấy, có con hát đàn ca vui vẻ, có người đóng vai thần  linh, và coi như một tiết mục biểu diễn trong cung.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/09/p14-15a1jhkljlk.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-795" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="p14-15a1jhkljlk" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/09/p14-15a1jhkljlk-300x199.jpg" alt="" width="300" height="199" /></a>Hai vị hoàng tử lớn lên rất mê ca hát, suốt ngày quanh quẩn bên bội  đình. Một hôm, mọi người tìm mãi không thấy hai hoàng tử đâu, hóa ra họ  lén vua cha vào trong buồng hát mà xem, đến nỗi quên ăn quên ngủ, rồi  kiệt sức, ôm nhau chết tự lúc nào. Từ đó, nghệ sĩ thường thấy hai hoàng  tử hiện về xem hát, bèn lập bàn thờ phụng, gọi là tổ. Cho nên, trong  đoàn hát có một trang thờ bằng gỗ sơn đỏ, đặt hai cốt gỗ nhỏ xíu như con  búp bê tượng trưng cho nhị vị hoàng tử. Mỗi khi có lớp diễn sinh con,  nghệ sĩ hay đến bàn thờ thỉnh một vị ra làm hài nhi. Hoàng tử trẻ tuổi,  ham vui, chắc chắn sẽ không phật lòng, mà còn thích diễn là đằng khác.  Nhưng NSND Đinh Bằng Phi còn nói: &#8220;Thờ cốt gỗ trẻ con cũng có ý nghĩa  hướng về khán giả trẻ, vì chính họ sẽ là người nuôi sân khấu tương lai&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng có truyền thuyết nói rằng tổ sân khấu vốn xuất thân từ ăn mày,  bởi nghề hát sống nhờ vào đồng tiền của khán giả gom lại, có khác chi ăn  mày khán giả. Cho nên nghệ sĩ làm từ thiện ở đâu thì làm chứ không dám  bố thí cho người ăn xin, vì như thế là phạm thượng với tổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra, sân khấu miền Nam xuất phát điểm là hát bội, nên ông tổ chỉ  được thờ trong các đoàn hát bội mà thôi. Sau này, có thêm cải lương rồi  kịch cũng lấy luôn ông tổ này làm tổ của mình.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>&#8220;Tổ phạt&#8221;, &#8220;tổ độ&#8221;&#8230;</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Nghệ sĩ thờ tổ rất thành kính, luôn nhớ những điều cấm kỵ, nếu không  sẽ bị “tổ phạt”. Nhưng theo NSND Đinh Bằng Phi thì những điều này vừa là  &#8220;tâm linh&#8221; vừa là khoa học. Chẳng hạn, giờ hóa trang không được giỡn  hớt, nói tục trước bàn thờ tổ, có nghĩa là nghệ sĩ phải yên tĩnh, tập  trung cho vai diễn sắp tới, thì sẽ diễn tốt hơn. Cấm đụng tới chiêng  trống, bảo đó là một bộ phận trong cơ thể ông tổ, thật ra sợ lỡ tay làm  hư rồi không sửa kịp, thiếu nhạc cụ để diễn. Cấm trẻ con hoặc khán giả  đem theo trái thị, sợ ông tổ nghe mùi thơm chạy theo mà bỏ nghệ sĩ,  không phù hộ. Sự thật là mùi trái thị thơm nức mũi, nghệ sĩ hít vô liền  bị phân tâm, quên vai mà thôi. Cấm mang guốc vông, vì gỗ cây vông đẽo  thành tượng tổ mà chà đạp dưới chân ắt có tội. Thật ra, thời xưa nghệ sĩ  thường đi chân đất, lúc diễn mới mang hia, hài, nếu ai đi guốc cồm cộp  sẽ làm mất yên tĩnh, tập trung cho người khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Và những câu chuyện truyền miệng trong giới không biết có phải do tổ  linh thiêng hay không&#8230; Gánh hát bội của nghệ sĩ Mười Vàng nổi tiếng,  có anh kép rất giỏi nhưng hay làm bể sô của ông bầu. Lần nọ, anh cũng bỏ  một sô, báo hại ông bầu Mười Vàng phải nhảy lên đóng thay. May mắn, ông  là nghệ sĩ kỳ cựu nên ai bỏ vai gì ông cũng đóng được hết. Lần này ông  bực quá, rầy anh kép nọ. Anh chối hoài, ông bảo anh phải thề. Anh thề:  &#8220;Nếu tôi nói dối thì cho bữa hát này tổ lấy hơi tôi đi!&#8221;. Lát sau, anh  ra sân khấu, mới dõng dạc hát một câu tự nhiên tắt giọng liền. Anh gân  cổ hát mãi cũng không được, hoảng hốt tìm cách lui vào hậu trường bảo vợ  đi mua con gà tạ lỗi với tổ. NSND Đinh Bằng Phi lúc ấy đang là giảng  viên của trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn, đi theo gánh hát, chứng kiến  đầu đuôi sự tình. Ông cười: &#8220;Chẳng biết tổ linh hay có thể giải thích  rằng do cả đêm anh ta thức đánh bài, sáng dậy mất giọng&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Còn một câu chuyện khác, có anh kép cải lương nổi tiếng một thời,  cát-sê ngang ngửa với nghệ sĩ Út Trà Ôn, Thành Được, lần nọ uống rượu  ngà ngà hát không nổi, liền tới trước bàn thờ tổ lè nhè: &#8220;Bộ muốn lấy  giọng tui hả?&#8221;. Tự nhiên sau đó vài năm anh &#8220;xuống&#8221; luôn, và giã từ sân  khấu khá sớm.</p>
<p style="text-align: justify;">Đó là những chuyện &#8220;tổ phạt&#8221;. Còn chuyện &#8220;tổ độ&#8221; cũng không thiếu. Có  nhiều đào kép ngoài đời không đẹp lắm nhưng lên sân khấu lại sáng trưng  và duyên dáng lạ kỳ. Chẳng hạn NSƯT Ngọc Giàu từng nói thẳng là mình  nhỏ con không sánh nổi nhan sắc cỡ Thanh Nga, Phượng Liên, nhưng tổ  thương nên nghề nghiệp vẫn thành công. Mỗi khi chị lên sân khấu, khán  giả chỉ thấy cái đẹp của nhân vật, và cho tới bây giờ vẫn yêu mến chị  cuồng nhiệt. Cô đào trẻ Tú Sương cũng hơi yếu về sắc vóc, nhưng trên sàn  diễn lại là ngôi sao cải lương. Có lẽ &#8220;tổ độ&#8221; vì cô làm nghề nghiêm  túc, vượt mọi khó khăn để sống chết với nghề. Vai nào Tú Sương đóng cũng  thấy sự tập luyện kỹ lưỡng, khán giả không yêu sao được.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh những vị tổ truyền thuyết ấy còn có những vị tổ rất cụ thể mà  giới làm nghề gọi là hậu tổ. Đó là những vị tổ sư của các ngành nghề có  liên quan đến vai diễn của nghệ sĩ, gọi là thập nhị công nghệ. Thí dụ:  nghề may, nghề mộc, đi buôn, thợ rèn, y dược&#8230; Mỗi vai diễn, nghệ sĩ  phải lấy thực tế từ người thật nghề thật rồi mới cách điệu lên, nên tri  ân nghề đó. Hậu tổ còn bao gồm cả những nghệ sĩ lão thành có công với  sân khấu, hoặc những nhân tài xuất chúng, như ông Trương Duy Toản, ông  Năm Tú, ông Cao Văn Lầu, NSND Năm Châu, Ba Vân, Trần Hữu Trang, Phùng  Há, Năm Phỉ, Tư Đồ&#8230;</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Hoàng Kim</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/09/huy%e1%bb%81n-tho%e1%ba%a1i-ong-t%e1%bb%95-va-ngay-san-kh%e1%ba%a5u/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cải Lương Miền Nam Việt Nam</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/09/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-mi%e1%bb%81n-nam-vi%e1%bb%87t-nam/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/09/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-mi%e1%bb%81n-nam-vi%e1%bb%87t-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 13 Sep 2010 11:56:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Cải Lương Miền Nam Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=776</guid>
		<description><![CDATA[Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ . Giải thích chữ &#8220;cải lương&#8221; (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: &#8220;cải lương là sửa [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ . Giải thích chữ &#8220;cải lương&#8221; (改良) theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: &#8220;cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn&#8221;, thể hiện qua sân  khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài  bản. Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy &#8220;có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918&#8243;, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới &#8220;bành  trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh  đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách&#8230;nên cải lương hình  thành lúc nào cũng không ai biết rõ&#8230;&#8221;</p>
<p style="text-align: justify;">Từ Đờn ca tài tử</p>
<p style="text-align: justify;">Đã đến lúc, theo Vương Hồng Sển, người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện. Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20,  các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các  buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn&#8230;nhưng chưa hề biểu  diễn trên sân khấu hay trước công chúng. Và nếu trước kia “cầm” (trong  “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó  không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài.  Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình  thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.Nhắc  lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:</p>
<p style="text-align: justify;">Căn  cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và  nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do  sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.</p>
<p style="text-align: justify;">Tác giả giải thích:</p>
<p style="text-align: justify;">Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không  dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề  ngoài lêu lổng, chơi bời&#8230;Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca  cho vui, vừa trau giồi nghệ thuật&#8230;rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc  canh khuya&#8230;họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn  buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan &#8211; hôn &#8211; tang &#8211; tế” (chủ nhà)  đều có mời họ cho rôm đám.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ấy, Đàn ca tài tử gồm hai nhóm:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ,  như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi), Trần  Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn&#8230;</li>
<li>Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá&#8230;</li>
</ul>
<h3 style="text-align: justify;">Đến lối Ca ra bộ</h3>
<p style="text-align: justify;">Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể:</p>
<p style="text-align: justify;">Ở  Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư  Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô  (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử  nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp.  Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu  và được công chúng đến xem đông đảo&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Nghe được cách cho &#8220;đờn ca trên sân khấu&#8221;, Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho,  bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy  trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt  liệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong  thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền  Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó  Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca  bài Tứ Đại, như bài “ Bùi Kiệm &#8211; Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có  đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người  ca đứng trên bộ ván ngựa và &#8220;ca ra bộ&#8221;. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 &#8211; 1916.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng theo Vương Hồng Sển:</p>
<p style="text-align: justify;">các  điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát  nhân những kỳ bãi tường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường  tỉnh Sóc Trăng&#8230;Cho  nên chúng ta không nên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư  trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật  hát ca khác với điệu hát bội thời ấy&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Nhà văn Sơn Nam còn cho biết:</p>
<p style="text-align: justify;">năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một  ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?&#8230;Chuyện nói đây  không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo  Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ  em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được  sao?&#8230;Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn  trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công  chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp  mắt.</p>
<p style="text-align: justify;">Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.</p>
<h3 style="text-align: justify;">Hình thành Cải lương</h3>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/09/khucoanvoluong1931.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-777" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="khucoanvoluong1931" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/09/khucoanvoluong1931.jpg" alt="" width="500" height="362" /></a>Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc (Cần Thơ) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931</p>
<p style="text-align: justify;">Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến),  mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày  ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để  dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi  nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu&#8230;. Nhân cơ hội ấy,  ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm  thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu  sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.</p>
<p style="text-align: justify;">Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:</p>
<p style="text-align: justify;">Cải cách hát ca theo tiến bộ</p>
<p style="text-align: justify;">Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:</p>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.</li>
<li>Năm 1916, có ca kiểu &#8220;đối thoại&#8221; (ca ra bộ)</li>
<li>Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp &#8211; Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn&#8230;lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tóm gọn như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">Những năm 1920 &#8211; 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương và Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội và loại phóng tác (như &#8220;Tơ vương đến thác&#8221;, &#8220;Giá trị và danh dự&#8221;).</p>
<p style="text-align: justify;">Trong thời kì 1930 &#8211; 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu&#8230;  Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lí của  dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về Phật, tiên, đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ  1934, xuất hiện phong trào &#8220;kiếm hiệp&#8221;, đi đầu là gánh Nhạn Trắng và  tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: &#8220;Chiếc lá vàng&#8221;,  &#8220;Bích Liên vương nữ&#8221;, &#8220;Bảo Nguyệt Nương&#8221;. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay&#8230; Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Đặc điểm</h2>
<h3 style="text-align: justify;">Bố cục</h3>
<p style="text-align: justify;">Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn&#8230;hãy  còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương  đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài  xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường&#8230; thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói,  nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo  sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải  lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch  nói.</p>
<h3 style="text-align: justify;">Đề tài &amp; cốt truyện</h3>
<p style="text-align: justify;">Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên&#8230;hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (Le Cid), Tơ vương đến thác (La dame au camélias)&#8230; Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam như đã kể trên.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ&#8230;Thế  là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây&#8230;sau có thêm  dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v&#8230;chứng tỏ khả năng phong phú,  biết đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự  dung nạp không thành kiến của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng  đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của  vùng đất Nam Bộ.</p>
<h3 style="text-align: justify;">Ca nhạc</h3>
<p style="text-align: justify;">Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch,  vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có  sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của  câu chuyện.</p>
<p style="text-align: justify;">Sân  khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ.  Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ).  Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa.  Ngoài trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ  biến trong các tuồng cải lương:</p>
<p style="text-align: justify;">- Tam  nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung) &#8211; Khốc hoàng thiên &#8211; Phụng  hoàng &#8211; Nặng tình xưa &#8211; Ngũ điểm &#8211; Bài tạ &#8211; Sương chiều &#8211; Tú Anh &#8211; Xang  xừ líu &#8211; Văn thiên tường (nhất là lớp dựng) &#8211; Ngựa ô bắc &#8211; Ngựa ô nam &#8211;  Đoản khúc Lam giang &#8211; Phi vân điệp khúc &#8211; Vọng kim lang &#8211; Kim tiền bản &#8211;  Duyên kỳ ngộ &#8211; U líu u xáng &#8211; Trăng thu dạ khúc &#8211; Xàng xê v.v&#8230; &#8211; Và  các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v..</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài  ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như:  Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng),  Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng)…thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải  lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn  dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu&#8230;</p>
<h3 style="text-align: justify;">Diễn xuất</h3>
<p style="text-align: justify;">Diễn  viên cải lương diễn xuất như kịch nói. Chỉ khác là diễn viên ca chứ  không nói. Cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như  hát bội. Vương Hồng Sển nói: Hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn  tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm muồi&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ&#8230;cốt chỉ để thêm sinh động&#8230;</p>
<h3 style="text-align: justify;">Y phục, tranh cảnh</h3>
<p style="text-align: justify;">Trong  các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục  của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi  được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ  chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn  mặc như nhân vật ngoài đời.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Ghi công</h2>
<p style="text-align: justify;">Sơ  khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có  công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có  vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng, Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v&#8230; Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật cải lương.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng nên nói thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại  hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán  thính giả. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy  chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất  trong năm.</p>
<p style="text-align: justify;">Trích Hồi Ký Cụ Vương Hồng Sển (Trác Nguyên Sưu Tầm)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/09/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-mi%e1%bb%81n-nam-vi%e1%bb%87t-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cải lương xuất hiện ở Sài Gòn lúc nào?</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/07/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-xu%e1%ba%a5t-hi%e1%bb%87n-%e1%bb%9f-sai-gon-luc-nao/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/07/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-xu%e1%ba%a5t-hi%e1%bb%87n-%e1%bb%9f-sai-gon-luc-nao/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 24 Jul 2010 08:11:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Cải lương xuất hiện ở Sài Gòn lúc nào?]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=617</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 11-9-1917, vở kịch mô phỏng kịch hài phương Tây Vì nghĩa quên nhà của Lê Quang Liêm và Hồ Biểu Chánh được công diễn ở rạp Eden (Sài Gòn). Ngày 12-9-1917, vở được diễn ở rạp Cô Tám (Chợ Lớn). (Ảnh : vnExpress.net) Vở kịch tạo ra cuộc tranh luận giữa hai phe bảo [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 11-9-1917, vở kịch mô phỏng kịch hài phương Tây <strong><em>Vì nghĩa quên nhà</em></strong> của Lê Quang Liêm và <a href="http://facts.baomoi.com/2009/02/14/tac-gi%e1%ba%a3-nam-b%e1%bb%99-nao-co-s%e1%bb%91-l%c6%b0%e1%bb%a3ng-ti%e1%bb%83u-thuy%e1%ba%bft-sang-tac-nhi%e1%bb%81u-nh%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a7u-th%e1%ba%bf-k%e1%bb%b7-xx/">Hồ Biểu Chánh</a> được công diễn ở rạp Eden (Sài Gòn). Ngày 12-9-1917, vở được diễn ở rạp Cô Tám (Chợ Lớn).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/07/Mong-Tuyen-Le-Thuy-Hoa-Moc-Lan.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-618" title="Mong-Tuyen-Le-Thuy-Hoa-Moc-Lan" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/07/Mong-Tuyen-Le-Thuy-Hoa-Moc-Lan.jpg" alt="" width="350" height="250" /><br />
</a><em>(Ảnh : vnExpress.net)</em></p>
<p>Vở kịch tạo ra cuộc tranh luận giữa hai phe bảo tồn hát bội và phe  cải lương kịch nghệ, chính thức báo hiệu sự ra đời của ca kịch cải  lương.Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản  hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:</p>
<p><em>Cải cách hát ca theo tiến bộ</em></p>
<p><em>Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.</em></p>
<p>Vương Hồng Sển lại có ý kiến khác về sự ra đời của cải lương, theo sự hiểu của ông thì:</p>
<ul>
<li>Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.</li>
<li>Năm 1916, có ca kiểu “đối thoại” (ca ra bộ)</li>
<li>Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng  Pháp – Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai  của cải lương.</li>
</ul>
<p style="text-align: right;">(ST)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/07/c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-xu%e1%ba%a5t-hi%e1%bb%87n-%e1%bb%9f-sai-gon-luc-nao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đờn ca tài tử Nam Bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/06/d%e1%bb%9dn-ca-tai-t%e1%bb%ad-nam-b%e1%bb%99-2/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/06/d%e1%bb%9dn-ca-tai-t%e1%bb%ad-nam-b%e1%bb%99-2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Jun 2010 06:35:26 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Southern amateur music]]></category>
		<category><![CDATA[Đớn ca tài tử Nam Bộ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=325</guid>
		<description><![CDATA[Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những người từ xứ xa &#8220;tới đây thì ở lại đây&#8221; đều nằm lòng câu tán dương khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề nghe &#8220;ngọt&#8221; quá! Đờn nghe &#8220;mùi&#8221; quá! Hai tính từ biểu cảm mang đặc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/06/doncataitu.jpg"><img class="alignright size-medium wp-image-326" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="doncataitu" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/06/doncataitu-300x203.jpg" alt="" width="300" height="203" /></a>Ở Nam Bộ, kể cả dân gốc gác tại chỗ hoặc những  người từ xứ xa                    &#8220;tới đây thì ở lại đây&#8221; đều nằm lòng câu tán dương                    khi nghe đờn ca tài tử vọng cổ sáu câu: Ca xuống xề  nghe &#8220;ngọt&#8221;                    quá! Đờn nghe &#8220;mùi&#8221; quá! Hai tính từ biểu cảm mang                    đặc thù Nam Bộ này được chuyển hóa từ trạng thái vị  giác sang                    trạng thái thính giác ở cấp độ cao, nói lên sự khoái  cảm đến                    say mê, cái &#8220;đã&#8221; của người thưởng thức, cái tài nghệ                    của nghệ sĩ và chỉ xuất hiện khoảng 80 năm nay, tức  sau khi                    bài Dạ Cổ Hoài Lang (nay là Vọng cổ) &#8211; bài nòng cốt  trong 20                    bàiTổ của đờn ca tài tử ca nhạc Cải lương: Nhạc sĩ tài  hoa Cao                    Văn Lầu sáng tác bài Dạ Cổ Hoài Lang tại quê hương Bạc  Liêu                    (1919) &#8211; lan nhanh ra ở Nam Bộ, nay phổ biến cả nước.  Nghệ sĩ                    nhân dân Út Trà Ôn được tôn vinh là &#8220;Đệ nhất danh ca  miền                    Nam&#8221;, &#8220;Vua vọng cổ&#8221; nổi danh từ nửa thế kỷ nay                    từ bài Vọng cổ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tại sao người ta mê Vọng cổ, Cải lương? Về lịch sử,  vào khoảng                    năm 1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn, một nhạc quan của  triều                    đình Huế là Nguyễn Quang Đại (Nam Bộ gọi là Ba Đợi)  vào Nam                    Kỳ ở vùng Đa Kao, Sài Gòn, rồi xuống miệt Cần Đước,  Cần Giuộc                    (tỉnh Chợ Lớn) rồi lại trở lên sống và qua đời tại Hộ  16 (quận                    8, TP.HCM) ngày nay. Ông dạy, phổ biến nhạc lễ, nhạc  tài tử,                    có cải biên, các thế hệ học trò của ông rất đông ở  nhiều nơi,                    nhiều người nổi danh như: Sáu Thới (thầy giáo của Giáo  Thinh),                    Năm Xem (ông ngoại nhạc sĩ Hai Biểu), Ba Đồng (Chợ  Lớn), Út                    Lăng (Bình Dương), lớp sau đó: Tư Huyện, Bảy Hàm, Tư  Tụi, Văn                    Vĩ, Sáu Thoàn&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Nam Bộ đã hình thành 2  nhóm                    ca nhạc tài tử và tranh đua với nhau về nghệ thuật, ra  sức cải                    tiến, nâng cao sáng tác thêm nhiều bài bản mới bổ sung  vào.                    Trưởng nhóm miền Tây là ông Trần Quan Quờn (Ký Quờn),  trưởng                    nhóm miền Đông là ông Ba Đợi (Nguyễn Quang Đại). Ông  Ba Đợi                    có công lớn, đã cùng các văn nhân và học trò giỏi ra  sức nghiên                    cứu, cải biên các bài bản gốc của ca nhạc Cung đình  Huế, bằng                    cách giản dị hóa lối ấn nhịp (nhịp hội, nhịp ngoại,  nhịp lơi)                    song vẫn tôn trọng lòng bản, để tạo một nhịp điệu hòa  hợp với                    ngôn ngữ, phong cách của dân Nam Bộ, dễ thâm nhập vào  quần chúng.                    Ông Ba Đợi thường nhắc nhở học trò:&#8221;Lễ phải có Nghi.  Nhạc                    phải có Hòa. Tiếng đàn phải đủ trầm, bổng, nhặt,  khoan&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Nếu nhạc lễ Cung đình biểu trưng cho nền văn minh,  văn hóa                    Phú Xuân, thi ca nhạc tài tử, cải lương biểu hiện cho  văn minh,                    văn hóa Nam Bộ. Các nhà nghiên cứu: Sơn Nam, giáo sư  Huỳnh Minh                    Đức, nhạc sĩ Vũy Chỗ, luật sư nhạc sĩ Tấn Nhì&#8230; đều  cho rằng                    nhạc tài tử Nam Bộ dựa theo học thuyết âm &#8211; dương ngũ  hành với                    ngũ cung: Giốc: Hò (Mộc), Chủy: Xự (Hỏa), Cung: Xang  (Thổ),                    dựa trên nền tảng lễ nghĩa, đạo đức phương Đông mang  trong mình                    cái gốc luân lý, mục tiêu đào tạo cung cách làm người.  Nó vừa                    mang nét trang trọng cung kính của nhạc lễ vừa dịu êm  ngọt ngào                    dễ hòa vào tâm hồn những con người vừa định cư ở vùng  đất mới                    mà lòng không nguôi thương nhớ quê cũ làng xưa. Nó phù  hợp vì                    rất đa dạng đáp ứng được mọi khía cạnh tình cảm con  người, hoàn                    cảnh cuộc đời. Có đủ 4 điệu: Bắc, Hạ, Nam, Oán, 4 hơi:  Xuân,                    Ai, Đào, Ngự, chia ra 3 Nam, 6 Bắc, 4 Oán, 7 Bài  (Ngự)&#8230; Vẫn                    bản nhạc đó, người ta chỉ cần thay lời mới là sát hợp  trong                    mọi hoàn cảnh: quan, hôn, tang, tế, biệt ly, thất  tình, thất                    sủng&#8230; nên rất đắc dụng, nên tồn tại và phát triển  hàng thế                    kỷ nay và sẽ lưu truyền mãi mãi. Vì nó là tiếng lòng.</p>
<p style="text-align: justify;">Mục đích của các bạn đờn ca tài tử là phục vụ vô tư  cho các                    lễ hội, đình ám, đám cưới, đám giỗ, buổi tiễn đưa tân  binh,                    đơn vị bộ đội lên đường đánh giặc&#8230; không vụ lợi,  không cần                    thù lao, gọi là &#8220;giúp vui&#8221;, mang tính cộng đồng sâu                    sắc, bình đẳng giữa mọi người. Ai biết đờn thì đờn,  biết ca                    thì ca, một bài cũng được, thậm chí đờn ca có lỡ &#8220;rớt&#8221;                     nhịp cũng chẳng ai chê cười mà còn động viên cố gắng.  Những                    người không biết đờn ca, đủ cả trẻ già trai gái, cả  người đi                    đường thích thì tham gia, cũng tự nhiên đến ngồi nghe  với thái                    độ chăm chú thưởng thức càng động viên các tài tử ca  đờn càng                    hay hơn, nếu lâu lâu có bánh trái, trà lá bồi dưỡng  cho ban                    tài tử càng tốt. Ban tài tử nào, ở ấp, xã nào cũng có  đông đảo                    khán, thính giả trung thành. Cuộc chơi không hạn định  giờ giấc.                    Đến khuya, khi mọi người cảm thẩy thỏa mãn thì chia  tay ra về,                    hẹn lại vào buổi tối hôm sau.</p>
<p style="text-align: justify;">Cứ như vậy thành lệ. Không ai bảo ai, hàng ngày làm  lụng vất                    vả trên đồng ruộng, hoặc có chuyện đi xa, đến chiều  phải tranh                    thủ về để kịp có mặt tham gia hoặc thưởng thức buổi  đờn ca tài                    tử. Năm này tháng nọ cũng lặp lại những bài bản cũ &#8211;  lâu lâu                    mới có lời ca mới &#8211; nhưng người đờn lẫn người nghe vẫn  không                    ai thấy chán, mà trái lại họ như bị ghiền (nghiện)  không có                    không được. Thỉnh thoảng, để &#8220;thay đổi không khí&#8221;                    vài người giỏi chữ nghĩa, nắm vững bài bản vừa sáng  tác vừa                    ca, gọi là &#8220;Văn sống&#8221; rất được hoan nghênh. Nhiều                    nam, nữ thanh niên sáng dạ nghe riết thuộc lời, thuộc  giọng,                    được vào ca, được truyền nghề. Ông Trượng &#8211; Tiên Bửu,  Bùi Kiệm                    &#8211; Nguyệt Nga, Lan &#8211; Điệp, Tôn Tẫn giả điên&#8230; là những  bài vỡ                    lòng. Mỗi người tự giác rèn luyện tiếng đờn, lời ca  cho thêm                    trau chuốt ngọt ngào.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở Cần Giuộc, xóm ấp nào cũng có ban đờn ca tài tử,  nòng cốt                    từ những người giỏi đờn ca tập hợp lớp trẻ làm thầy  truyền nghề                    trực tiếp. Khi có lực lượng đờn ca khá, ai cũng muốn  thi thố                    tài năng bằng cách mở rộng giao lưu với ban nhạc các  ấp, xã                    khác. Bí quyết chắc thắng là phải vững nhịp mới tránh  được &#8220;nhịp                    lọt&#8221; khỏi bị rớt khi gặp đối thủ có bản lĩnh đờn nhử,  đờn                    phá. Ở Cần Đước có Sáu Nữa nổi tiếng đờn nhịp lọt.</p>
<p style="text-align: justify;">Thú chơi đờn ca tài tử còn vì phong cảnh hữu tình,  gợi cảm,                    gần với thiên nhiên. Ngoài số cuộc chơi ở các lễ hội  đình đám                    ngồi bộ ván trải chiều bông nghiêm trang, phần nhiều  các ban                    ca nhạc tài tử thích chơi giữa cảnh trời trăng mây  nước. Có                    thể dưới bóng mát gốc me, gốc xoài, gió lộng, trên gò  đất cao                    cạnh ao làng được bao bọc bốn bề là đồng lúa xanh  tươi, vàng                    rực. Hay trên chiếc thuyền trôi xuôi êm ả theo dòng  nước lồng                    lộng trăng rằm, nên thơ tĩnh mịch, tiếng lá dừa nước  hai bên                    bờ rì rào dịu êm như nền nhạc đệm làm tăng vẻ hữu tình  cho buổi                    đờn ca tài tử trên sông.</p>
<p style="text-align: justify;">Hò ơi!&#8230; Gió đưa con buồn ngủ lên bờ, Mùng ai có  trống (xin)                    cho ngủ nhờ một đêm!</p>
<p style="text-align: justify;">Câu hò huê tình nhẹ nhàng có ý trêu chọc bâng quơ của  chàng                    thanh niên nào đó thường cũng là câu mở đầu đánh giá  cho bài                    ca Văn Thiên Tường, Trường Tương Tư, hay vọng cổ Tình  anh bán                    chiếu&#8230; Tiếng đời, lời ca ngân nga hòa quyện vào làn  gió lan                    tỏa mãi trên mặt sông đầy.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở nông thôn Nam Bộ, việc biết đờn ca tài tử như là lẽ  đương                    nhiên. Trên đường đi câu, đi cấy gặt lúa, nhất là khi  chèo xuồng                    một mình trên sông rộng, hay chống xuồng ba lá thanh  thoát giữa                    rừng rậm U Minh hoặc trong mênh mông đồng nước Tháp  Mười, không                    ai giấu nổi tình cảm trắc ẩn riêng tư. Những bài ca  vọng cổ                    nằm lòng, bài ruột sẽ được trào dâng, thậm chí có bài  nội dung                    không dính dáng gì với hoàn cảnh thực tại vẫn ca  &#8220;chay&#8221;                    (không có đệm đờn) vẫn phóng khoáng lời ca có sức  truyền cảm                    lạ lùng. Không có ai nghe thì ca cho &#8220;mình ên&#8221; nghe                    cho đã. Vì &#8220;nghệ sĩ&#8221; trước tiên là người thưởng thức                    sản phẩm của chính mình.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Nhìn trời hiu quạnh rừng đêm sương gió lạnh; hướng  quê                    nhà lòng thêm chạnh nỗi niềm riêng&#8221;&#8230; Sầu vương biên  ải,                    nói lên tâm trạng người chiến binh đồn trú nơi biên  cương nhớ                    quê nhà. &#8220;Hận sông Gianh&#8221; rất được thường dùng khi                    đất nước còn nỗi đau chia cắt hai miền Nam &#8211; Bắc. Lãng  mạn cách                    mạng không gì qua bài &#8220;Dệt chặng đường xuân&#8221; ca ngợi                    anh chị giao liên lạc quan trong gian khổ hy sinh,  ngày đêm                    như con thoi khắp sông rạch, đồng bưng của khu Tây Nam  Bộ kiên                    cường hết lòng đánh giặc. Thời đánh Mỹ, nhiều cán bộ,  chiến                    sĩ Giải phóng quân súng đạn oằn vai trên đường hành  quân ra                    trận vẫn mở radio bỏ túi nghe 6 câu vọng cổ &#8220;Long An  xanh                    màu lá mạ&#8221; trong cảnh bom đạn Mỹ tàn phá quê hương,  &#8220;Bài                    ca Trường Sơn&#8221; nỗi lòng người con An Giang Nam Bộ đang                     đứng trên đỉnh Trường Sơn thương nhớ về Bảy Núi quê  nhà mà khắc                    ghi mối căm thù, tự động viên mình, động viên đồng đội  quyết                    chiến quyết thắng.</p>
<p style="text-align: justify;">Lời ca của bản Vọng cổ cũng được trau chuốt, súc tích  trữ tình                    như thơ. Cô giao liên đưa &#8220;chiến sĩ qua sông Sài Gòn  như                    chở trăng mây trời&#8221; sang sông. Chị du kích &#8220;sau đợt                    chống càn, bầu sữa căng, về nhà cho con bú không quên  hái bông                    sen hồng mọc lên trong hố bom đìa&#8221; giành tặng con yêu.                     Anh hùng đến độ lạ thường. Coi việc đánh giặc như nhổ  cỏ bắt                    sâu hàng ngày ở vườn cà, ruộng lúa&#8230; Vọng cổ tài tình  như vậy,                    chính trị, triết lý, đạo lý nhân bản sâu sắc thời đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Bởi vậy, không chỉ giới công, nông, binh mà cả giới  trí thức                    gần thế kỷ nay ở Nam Bộ rất yêu thích và tham gia học  đời ca                    tài tử, cải lương. Những học trò nổi danh của thầy Ba  Đợi, thầy                    Sáu Lầu có nhiều thầy thông, thầy ký, đốc học, hương  chức hội                    tề. Vì đờn ca tài tử vừa bình dân, vừa cao cấp, vừa  gần gũi,                    vừa thâm sâu, lời ca quyện chặt tiếng đờn, tiếng nâng  bổ lời                    ca mang theo cả tâm hồn nghệ sĩ, người thưởng thức.  Tôi đã được                    nghe các ban, các CLB đờn ca tài tử của các huyện, thị  ở Long                    An, CLB đờn ca tài tử thị xã Cà Mau, CLB đờn ca tài tử  Cao Văn                    Lầu &#8211; thị xã Bạc Liêu&#8230; cây đờn ghi ta điện phím lõm  có xôm                    tụ, nhưng không thay được các cây đờn: Cò, Kìm, Tranh,  Sến cổ                    truyền vẫn luôn là chủ đạo.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/06/TranVanKhe.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-327" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="_TranVanKhe" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/06/TranVanKhe-227x300.jpg" alt="" width="227" height="300" /></a>Giáo sư Trần Văn Khê đã có nhận xét rất chính xác:  &#8220;&#8230;                    chân phương hoa lá trong bài vọng cổ đã được áp dụng  một cách                    thần tình. Hoa chẳng những đẹp mà còn thơm. Lá chẳng  những xanh                    mà còn tươi. Thành ra bản Vọng cổ có cái tươi mát, cái  đẹp đẽ,                    có cái phong phú, cái dồi dào mà sức sống, sức đóng  góp của                    tất cả những người nghệ sĩ, từ đứa con của bác Sáu Lầu  sáng                    tạo, nuôi dưỡng cho nó lớn lên mạnh mẽ, nó đẹp đẽ&#8230;&#8221;  Đó                    chính là ma lực, sức hấp dẫn, làm say mê lòng người,  ai biết                    qua rồi khó lòng bỏ được. Vì nó là bản sắc văn hóa Nam  Bộ, văn                    hóa Việt Nam.</p>
<div style="text-align: justify;">
<p style="text-align: right;">(Sưu tầm)</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/06/d%e1%bb%9dn-ca-tai-t%e1%bb%ad-nam-b%e1%bb%99-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vọng cổ hoài lang</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/v%e1%bb%8dng-c%e1%bb%95-hoai-lang/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/v%e1%bb%8dng-c%e1%bb%95-hoai-lang/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 08:15:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Dạ cổ hoài lang]]></category>
		<category><![CDATA[Vọng cổ hoài lang]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=295</guid>
		<description><![CDATA[Người yêu, yêu đến si tình, nhưng người ghét thì ghét cay, ghét đắng. Chỉ nghe tên đã muốn đào đất đổ đi, có khi vì sự ghen ghét ấy mà sân khấu cải lương cũng bị vạ lây. Có lẽ vì thế mà sau khi ra đời bài Vọng cổ đã phải bao lần [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Người yêu, yêu đến si tình,                    nhưng người ghét thì ghét cay, ghét đắng.                    Chỉ nghe tên đã muốn đào đất                    đổ đi, có khi vì sự ghen ghét ấy                    mà sân khấu cải lương cũng bị                    vạ lây. Có lẽ vì thế mà sau khi ra đời                    bài Vọng cổ đã phải bao lần thay                    tên, đổi họ &#8220;hóa thân&#8221;, mới sống                    được tới ngày hôm nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/vco.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-296" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="vco" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/vco.jpg" alt="" width="168" height="230" /></a><strong>Dạ  cổ hoài lang</strong><em> (Vọng cổ                    hoài lang)</em> ra đời được hơn                    nửa thế kỷ. Nó đã làm cho nền móng                    cho nhiều bài vọng cổ không ngừng phát                    triển. Ðó là một hiện tượng có                    liên quan đế cuộc đời tác giả-nhạc                    sĩ <em>Cao Văn Lầu.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Xuất thân từ một gia đình                    bần nông thuộc tỉnh Long An (trước                    là Tân An), lúc lên sáu tuổi, nhạc sĩ đã                    phải cam chịu cảnh bị áp bức bóc                    lột như muôn ngàn gia đình nông dân nghèo khổ                    khác.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy còn nhỏ nhưng cậu bé Cao                    Văn Lầu đã chứng kiến nhiều                    sự ngang trái trong cuộc sống tha phương                    cầu thực, rày đây mai đó, hết làm                    nghề này lại chuyển sang nghề khác và                    trong con tim nhỏ bé đã chớm nở dần                    những xúc cảm về cuộc đời.                    Từ khi gia đình định cư ở một                    vùng đất biển Bạc Liêu thì tính nghệ                    sĩ của chàng trai ngày càng được                    thể hiện rõ rệt. Ðược sự                    dạy bảo cẩn thận về âm nhạc                    của lão nghệ sĩ Hai Khị, Cao Văn                    Lầu bắt đầu cống hiến cuộc                    đời mình cho sự nghiệp âm nhạc.                    Nhạc sĩ rất thành thạo về môn nhạc                    lễ và nhạc tài tử khi nhạc sĩ đang                    độ 20 tuổi và cũng đồng thời                    với phong trào &#8220;ca ra bộ&#8221; bắt đầu                    phát triển ra khắp lục tỉnh Nam Kỳ                    lúc bấy giờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Bản Vọng cổ trước                    hết có tên là Dạ cổ được nhạc                    sỹ Cao Văn Lầu sáng chế hồi năm                    1920 (sau ba năm khi cải lương ra đời).                    Sanh 1890, ông Sáu Lầu được 30 tuổi                    khi ông chế bản Vọng cổ. Lúc ấy                    ông cưới vợ được 10 năm,                    nhưng không có con. Cha mẹ ông buộc phải                    cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự.                    Ông buồn rầu không còn muốn làm ăn gì                    nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền                    ngẫm những lời vợ ông nói trước                    khi chia tay. Ông biết đờn cổ nhạc                    nên trong tâm trạng người chồng đau                    khổ trước cảnh gia đình tan rã,                    ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20                    câu gọi &#8220;Dạ cổ hoài lang&#8221; (Ðêm khuya nghe                    tiếng trống nhớ chồng), có ý để                    kỷ niệm mối tâm tình của vợ ông                    với ông. Không biết có phải ông trời                    vì thấu hiểu và cảm thông cho đôi vợ                    chồng mà ít lâu sau, vợ ông thụ thai&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Về sau, bản nhạc ấy được                    đổi tên là &#8220;Vọng cổ hoài lang&#8221; cho rộng                    nghĩa thêm (Trông mối tình xưa mà nhớ                    đến chồng).</p>
<p style="text-align: justify;">Biên bản nguyên thủy của &#8220;Dạ                    cổ hoài lang&#8221; của ông Sáu Lầu như sau:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Từ là từ phu tướng,<br />
Bửu kiếm sắc phong lên đàng.<br />
Vào ra luống trông tin chàng,<br />
Ðêm năm canh mơ màng.<br />
Em luống trông tin nhàn,<br />
Ôi, gan vàng quặn đau.<br />
Ðường dầu xa ong bướm,<br />
Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.<br />
Còn đêm luống trông tin bạn,<br />
Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.<br />
Vọng phu vọng, luống trông tin chàng,<br />
Lòng xin chớ phụ phàng.<br />
Chàng hỡi chàng có hay,<br />
Ðêm thiếp nằm luống những sầu                    tây.<br />
Biết bao thuở đó đây xum vầy,<br />
Duyên sắt cầm đừng lạt phai.<br />
Thiếp cũng nguyện cho chàng,<br />
</em><em>Nguyện cho chàng hai chữ bình an.<br />
Mau trở lại gia đàng,<br />
Cho én nhạn hiệp đôi.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Bài Dạ Cổ Hoài Lang không những                    khái quát được tâm tư tình cảm của                    một lớp người ở thời đại                    đó, mà còn nêu lên tính độc đáo của                    một loại hình mới về nghệ thuật                    âm nhạc được phát triển dựa                    trên những đường nét cổ truyền.                    Ðiều này đã nói lên bản lĩnh của                    tác giả do được rèn luyện và tích                    lũy vốn nghệ thuật dân gian lâu đời                    một cách vững chắc. Nó hoàn toàn thoát ly                    những đường nét định hình của                    nền nhạc truyền thống, không chạm                    trổ hoa mỹ, không dài dòng văn tự như                    một số bài bản trong nền cổ nhạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Về cấu tạo âm hưởng                    đó là sự phối hợp một cách khéo                    léo những điệu thức khác nhau làm cho                    tác phẩm được tăng cường                    sức hấp dẫn và sự thể hiện                    phong phú về mặt hình tượng nghệ                    thuật, khiến cho người nghèo cảm                    như thấy có cuộc đời của mình                    ở trong đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cái buồn man mác có chất chứa                    nỗi oán hờn tủi nhục. Bài Dạ Cổ                    Hoài Lang không phải là bài ca tâm sự của                    một con người cụ thể. Nó đã                    hòa đồng nỗi lòng của một con người                    trong nỗi lòng của hàng triệu con người                    khác đang phải sống một cuộc đời                    cơ cực.</p>
<p style="text-align: justify;">Dạ cổ hoài lang là một bản                    vọng cổ có hình thức cấu trúc âm nhạc                    hoàn chỉnh cho một làn điệu bài bản,                    làm nền tảng cho vốn ca nhạc cải                    lương. Dạ cổ hoài lang đã sống                    với sân khấu cải lương gần                    80 năm và vẫn được nhiều người                    hâm mộ.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/2005-05-14_084636_dacohoailang.gif"><img class="size-full wp-image-297  aligncenter" title="2005-05-14_084636_dacohoailang" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/2005-05-14_084636_dacohoailang.gif" alt="" width="500" height="823" /></a></p>
<p><object classid="clsid:d27cdb6e-ae6d-11cf-96b8-444553540000" width="300" height="270" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"><embed type="application/x-shockwave-flash" width="300" height="270"></embed></object></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/v%e1%bb%8dng-c%e1%bb%95-hoai-lang/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hát bội</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/hat-b%e1%bb%99i/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/hat-b%e1%bb%99i/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 08:03:39 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Hát bội]]></category>
		<category><![CDATA[Hát bội - Lý Nam Bộ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=288</guid>
		<description><![CDATA[Vào những năm đầu thế kỷ XX, bộ môn sân khấu nổi bật nhất ở Nam bộ vẫn là hát bội. Có người cho rằng thời điểm nây, hát bội ở Nam kỳ đă có cải biến nhiều do ảnh hưởng từ tuồng hát Quảng Ðông, hát Tiều và đó có thể là một cách [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/hatboi.gif"><img class="alignleft size-full wp-image-289" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="hatboi" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/hatboi.gif" alt="" width="248" height="124" /></a>Vào những                    năm đầu thế kỷ XX, bộ môn sân khấu nổi bật nhất ở Nam  bộ vẫn                    là hát bội. Có người cho rằng thời điểm nây, hát bội ở  Nam kỳ                    đă có cải biến nhiều do ảnh hưởng từ tuồng hát Quảng  Ðông, hát                    Tiều và đó có thể là một cách những lưu dân ngưới Việt  tiếp                    thu được khi họ cùng đi theo các nhóm di thần &#8220;bài  Mãn,                    phục Minh&#8221; vào phía Ðồng Nai. Mỹ Tho, Hà Tiên và những                     khu vực khác ở đồng bằng sông Cửu Long.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng vào những năm đầu thế kỷ XX ban hát bội thường  kéo tới                    các địa phương trình diễn khi nơi đó có người đứng ra  &#8220;bao                    chầu&#8221; như những điền chủ , thân hào, thương gia giàu  có.                    &#8220;Rạp hát&#8221; mở cửa tự do cho mọi người vào xem. Dĩ  nhiên,                    các hạng ghế đầu &#8211; cạnh &#8220;sân khấu&#8221; &#8211; đều dành cho                    những người có công đóng góp đáng kể hay hàng chức  sắc. Ban                    hát tổ chức trong sân đình và căng lều (rạp) cốt yếu  che mưa,                    nắng cho nghệ nhân. Lệ bán vé vào cửa chỉ xuất hiện  khi thực                    dân Pháp xâm chiếm là đồn trú tại một số tỉnh Nam kỳ.  Vào lúc                    này, những đồng tiền kẽm được ném lên sân khấu có mục  đích tán                    thưởng các giây phút nghệ nhân biểu diễn quá nhập vai,  xuất                    thần. Sau này, còn thêm lệ ném quạt có kẹp những tấm  giấy bạc.</p>
<p style="text-align: justify;">Về tuồng tích, phía Hậu Giang gần như chỉ quen thuộc  với loại                    tuồng Tàu (như &#8220;Trương Phi thủ Cổ thành&#8221;, &#8220;Tống                    tửu Ðơn Hùng Tín&#8221;&#8230;), trong khi miệt Ðồng Nai, Bến  Nghé                    thích tuồng &#8220;San Hậu&#8221; và đây cũng là một dạng tuồng                    &#8220;Tổ&#8221;&#8230; Như đã nói, vào thời kỳ này, tại Nam kỳ, các                    vùng sâu của Rạch Giá, ven U Minh nạn cọp, sấu hoành  hành dữ                    dội. Ở những nơi chưa có đình làng, đồng bào khẩn  hoang cho                    cắm cận bờ sông một vòng rào, bên trong đặt sân khấu  có bục                    cao trên mặt nước. Người xem sẽ bơi xuồng vào trong  vòng rào,                    ngồi trên xuồng thưởng thức. Cọp ven rừng có tới được  mé sông                    chỉ biết nhìn những ánh đuốc bập bùng. Loài cá sấu  thích thịt                    người cũng đành ngóng mỏ ngoài vòng rào chứ không làm  hại ai                    được.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên cạnh hát bội, loại nhạc cung đình do nho sĩ, nhạc  công                    ở Trung Kỳ đưa vào cũng được dạy cho con cái những gia  đình                    khá giả. Mang tên nhạc cung đình nhưng nó in đậm chất  dân gian                    của người xứ Huế, có thể từ đời Nguyễn Phúc Chu, nền  &#8220;kinh                    tế thị trường&#8221; nơi đây đã manh nha với nơi sầm uất  nhất                    có thể kể là cảng Hội An. Một số bài bản khác cũng  theo dòng                    nhạc cung đình đổ vào phía Nam là nhạc dùng trong dịp  tế thần                    hay tang ma, gọi là &#8220;nhạc lễ&#8221;. Người ta đồn đại thời                    điểm này, khoảng năm 1885, nhạc quan nhà Nguyễn là  Nguyễn Quang                    Ðạt từng phiêu bạt từ Huế vào Sài Gòn bây giờ. Ông tìm  đến Cần                    Ðước, Long An và được dân địa phương sủng ái mời ở lại  dạy nhạc                    lễ. Nguyễn Quang Ðạt đã rà soát bài bản sẵn có tại địa  phương,                    nâng nó lên một cấp. Cho tới nay, người dân Nam bộ,  nhất là                    ở Long An còn tôn ông là Hậu Tổ của nhạc tài tử đặt  bài vị thờ                    cúng ở đình Vạn Phước (Cần Ðước). Những năm đầu thế kỷ  XX, theo                    dòng nhạc tài tử (chỉnh lý từ nhạc cung đình Huế) mới  của Nguyễn                    Quang Ðạt, được phổ biến rộng dần khắp Nam kỳ. Nhạc  tài tử có                    nghĩa là đàn với bạn tri âm, tri kỷ nhằm &#8220;di dưỡng  tánh                    tình&#8221; hoặc đơn thuần tìm phút giây thư giãn sau một  ngày                    đồng áng, khẩn hoang mệt nhọc. Theo tác giả Trần Văn  Khải, người                    soạn sách &#8220;Nghệ thuật sân khấu Việt Nam&#8221; (ấn hành                    ở Sài Gòn năm 1966), trong nhạc tài tử, giọng Oán là  giọng đặc                    trưng miền Nam, đờn Oán thường dùng dây Hổ Tư (dây  Chinh) và                    dây Tố Lan. Hai dây này đều do nghệ nhân miền Nam sáng  chế do                    bài Oán đầu tiên là bài Tứ Ðại. Giọng Oán hơi bi  thương nhưng                    trong nó nổi cộm chất trang nghiêm, hùng dũng. Người  sáng chế                    bản Tứ Ðại, rất tiếc không ai còn nhớ tên.</p>
<p style="text-align: justify;">Khoảng năm 1905, thực dân Pháp xâm lược nước ta và đã  cho khai                    trương nhà hát Tây với kiến trúc lạ, có nơi bố trí chỗ  ngồi                    cho người xem và điễn tuồng ca nhạc kịch kéo dài tối  đa vài                    ba giờ đồng hồ. Khi diễn tuồng có bài trí cảnh nhà  cửa, núi                    non, vườn tược, bàn ghế&#8230; khá sinh động. Nhiều người  có dịp                    đi xem hát Tây, thấy gọn gàng, khoa học hơn hẳn loại  hình hát                    bội nên đã nghĩ tới việc cải cách hát bội cho hợp  thời. Trước                    nhất là hình thức, cấu trúc vở tuồng sao cho mô phỏng  được những                    tuồng tích người Pháp đã diễn và sau là thể hiện nó  nhưng với                    nhạc tài tử cũ . Những lối thoát cho nhạc tài tử được  mở ra                    như sau: tử chỗ chỉ ngồi nghiêm nghị để hát, nghệ nhân  tiến                    tới hát có điệu bộ (diễn), gọi là ca ra bộ là tiền  thân của                    cải lương sau này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tác giả Vương Hồng Sển trong một nghiên cứu của mình  đã xác                    nhận mốc cụ thể ra đời của cải lương là đêm 11/  11/1918, là                    một cuộc hát lạc quyên nhân sự kiện Hoàng tử Cảnh được  Bá Ða                    Lộc đưa sang Pháp làm con tin. Tuy nhiên trước đó, vẫn  theo                    Vương Hồng Sển, hát cải lương cũng đã xuất hiện ở các  vùng như                    Vĩnh Long, Mỹ Tho&#8230; với những sân khấu, phông màn,  &#8220;đề-co-phít&#8221;                    hay souffler (người nhắc tuồng). Dàn nhạc cải lương  được giấu                    sau phông và có thiết kế loại màn từ từ hạ xuống sau  khi dứt                    một cảnh trí hay bản hát (theo hồi ký &#8220;Năm mươi năm mê                     hát&#8221; của Vương Hồng Sển).</p>
<p style="text-align: justify;">Xin trích lược một đoạn sau trong hồi kỳ nêu trên của  ông,                    nói về sự ra đời và bối cảnh ra đời của sân khấu cải  lương:                    &#8220;&#8230; Buổi sơ khởi của cải lương là ngẫu nhiên, tình cờ                     và do lòng ái quốc mà nên. Người miền Nam có cái hay  là khi                    biết dùng bạo lực chỉ hại thân thì không dùng bạo lực.  Họ cố                    đè nén lòng yêu nước, chôn giấu trong dáng vẻ bề ngoài  lêu lổng,                    chơi bời (&#8230;). Cũng may thay, hút sách, bài bạc mãi  cũng chán                    và một số người tìm mục đích khác cho cuộc sống chẳng  hạn như                    việc tụ họp trong một nhà khá giả hay chỗ đô hội như  tiệm cắt                    tóc, tiệm may, tiệm thợ bạc, vừa trau dồi nghệ thuật  vừa cùng                    nhau đờn ca cho vui. Khi những nhóm đờn ca tài tử này  lên tới                    Sài Gòn, nó càng được nâng lên thành một bộ môn nghệ  thuật lớn.                    Một số ban hát thường dựng tuồng Hoàng tử Cảnh nhờ Bá  Ða Lộc                    đi cầu viện, tuồng &#8220;Pháp Việt nhất gia&#8221; (nếu không                    thỏa mãn các nội dung này sẽ khó lòng xuất hiện trước  công chúng,                    dưới mắt người Pháp). Một số ban hát lập các gánh hát  thân Pháp                    thời kỳ ấy có thể kể Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thành  Phương, Lê                    Quang Liêm, Ðặng Thúc Liêng&#8230; Với một số cải tiến nữa  về kỹ                    thuật, năm 1922, đoàn hát của Thầy Năm Tú ra đời với  tuồng tích                    có kịch bản tốt hơn, do một trong những kịch tác gia  đầu tiên                    ở phía Nam biên soạn là Trương Duy Toản, lấy cốt  truyện &#8220;Kim                    Vân Kiều&#8221; của đại thi hào Nguyễn Du&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Từ lúc cải lương ra đời, sân khấu hát bội vẫn tồn  tại, phát                    triển song song nhưng cải lương tiến nhanh hơn một ít  kể từ                    thập niên 20 của thế kỷ này. Nó đã trải qua nhiều thử  nghiệm                    khi có bân vọng cổ thêm nhịp (gọi là vọng cổ Bạc Liêu)  thay                    thế cho Tứ Ðại Oán ở buổi đầu sơ khai. Tuy nhiên, cải  lương                    vẫn thờ ông Tổ chung với hát bội. Cũng không thể không  nhắc                    tới ngành kinh doanh băng đĩa hát từ trước năm 1930  với những                    Hãng băng đĩa như Pathé- phono, Béka&#8230; Thời bấy giờ,  cũng ít                    ai có may mắn xem tận mắt các nghệ sĩ tài danh biểu  diễn nên                    họ tạm hài lòng với các loại băng đă hát này nhưng lúc  đầu chỉ                    những nhà giàu mới có. Sau 1930, với Hãng Asia, một số  vở tuồng                    được dựng lại, ghi âm như các vở &#8220;San Hậu&#8221;, &#8220;Tô                    Ánh Nguyệt&#8221;&#8230; Nhạc tài tử Nam bộ, tuồng cải lương,  hát                    bội vẫn được xem là thành tựu lao động nghệ thuật lớn  của người                    phương Nam, những người thích làm nghệ thuật và thưởng  thức                    nghệ thuật qua cách nghe-nhìn hơn là chỉ làm văn xuôi,  thi phú.                    Thử điểm qua danh sách những con người đã sống, sáng  tác nghệ                    thuật này, ta nhận ra người ở vùng đồng bằng Nam bộ  chiếm số                    đông. Có thể kể những người con ưu tú, tiêu biểu ấy  của đất                    nước như soạn giả Trần Hữu Trang, kịch sĩ Năm Châu, Ba  Vân,                    Bảy Nhiêu&#8230; hoặc sau này là những Phùng Há, Năm  Nghĩa, Thành                    Tôn, Mộng Vân, Kim Cương, ÚT TRÀ Ôn và nhiều gương mặt  văn nghệ                    sĩ khác nữa&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Vốn là một môn nghệ thuật truyền thống lâu đời nhất  của Việt                    Nam, Hát bội (còn được gọi là hát Bộ) xuất xứ từ sân  khấu Tuồng                    của miền Bắc, sau đó thời triều Nguyễn được nâng cao  và phát                    triển mạnh ở miền Trung (Bình Định và Huế&#8230;) rồi lan  nhanh                    đến Sài Gòn và Nam Bộ ở vào giai đoạn rất sớm khi vùng  đất này                    hình thành.</p>
<p style="text-align: justify;">Sức hấp dẫn của sân khấu hát bội là sự kết hợp đề cao  các đạo                    lý truyền thống của dân tộc thông qua các hình thức  biểu diễn                    hết sức độc đáo đó là hình thức ước lệ trong nghệ  thuật ca,                    diễn, vũ đạo, trang phục, hoá trang&#8230; của diễn viên.</p>
<p style="text-align: justify;">Hát bội giữ được vị trí chủ đạo trong sinh hoạt biểu  diễn ở                    Sài Gòn suốt mấy thế kỷ, nhưng sang đến thể kỷ XX, hát  bội bị                    các loại hình nghệ thuật sân khấu khác (Cải lương,  kịch nói&#8230;)                    lấn át, trở thành một loại hình nghệ thuật cổ truyền  chủ yếu                    gắn với sinh hoạt lễ hội dân gian (ở đình, miếu&#8230;).  Mặc dù                    vậy, đối với nhiều người dân, nhất là ở vùng nông thôn  ngoại                    thành và người lớn tuổi, hát bội vẫn là một loại hình  nghệ thuật                    có sức hấp dẫn riêng. Đặc biệt, gần đây hoạt động du  lịch ở                    TP Hồ Chí Minh ngày càng phát triển, các chương trình  trích                    đoạn hát bội truyền thống phục vụ khách du lịch quốc  tế đã được                    chú ý bước đầu đạt hiệu quả tốt. (Sưu tầm)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/hat-b%e1%bb%99i/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thế nào là một giọng ca cải lương hay?</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-gi%e1%bb%8dng-ca-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-hay/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-gi%e1%bb%8dng-ca-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-hay/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:46:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=272</guid>
		<description><![CDATA[Cải lương có những làn điệu bài bản cố định, từ đó nhạc sỹ thiết kế để phù hợp với tâm trạng từng nhân vật. Trong ngần ấy mẫu gốc, làn điệu cơ bản, hát thế nào cho hay, cho đẹp, có hơi ấm tình cảm và bản sắc riêng hoàn toàn phụ thuộc vào [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/cail.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-273" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="cail" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/cail.jpg" alt="" width="290" height="200" /></a>Cải                    lương có những làn điệu bài bản                    cố định, từ đó nhạc sỹ                    thiết kế để phù hợp với tâm                    trạng từng nhân vật. Trong ngần ấy                    mẫu gốc, làn điệu cơ bản,                    hát thế nào cho hay, cho đẹp, có hơi ấm                    tình cảm và bản sắc riêng hoàn toàn phụ                    thuộc vào tài nghệ điều khiển,                    thao túng nhịp điệu của từng diễn                    viên hát cải lương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Yếu tố hàng đầu                    cho một giọng ca cải lương hay chính                    là sức mạnh truyền cảm. Một giọng                    ca hời hợt, chỉ thấy lời mà không                    thấy lòng người, không phải là giọng                    ca hay. Ngay cả một giọng ca điêu luyện                    về kỹ thuật mà không có linh cảm, có                    cái &#8220;hồn&#8221; thì cũng chỉ là một giọng                    ca chết, không sinh khí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Một giọng ca hay                    là giọng ca lột tả đến cùng tình                    cảm của câu hát, của tâm trạng nhân                    vật bằng tất cả rung động                    của trái tim người hát và bằng cả                    quá trình khổ luyện, tìm ra được                    cách biểu hiện tốt nhất. Khi nội                    dung bài hát đã thấm vào lòng diễn viên, đã                    biến thành máu thịt, thì các kỹ thuật                    gieo câu, nhả chữ, ngừng lặng, luyến                    láy, đều là kết quả sự xúc động                    tình cảm sâu sắc của người hát.                    Một người rất ít nghe cải lương,                    thậm chí chưa nghe bao giờ, cũng có thể                    xúc động khi nghe một giọng ca truyền                    đạt chính xác sắc độ tình cảm                    của lời bài hát, của nhân vật như:                    yêu thương, nhớ nhung, buồn bã hoặc                    căm uất, giận hờn&#8230;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Tùy cách chế ngự                    điều khiển của từng diễn                    viên với bài bản cải lương, sẽ                    quyết định từng màu sắc riêng biệt                    của mỗi giọng ca.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Mỗi người                    sẽ tạo ra một chất giọng riêng,                    không lẫn vào đâu được. Và người                    ta dễ dàng nhận ra một Lệ Thủy,                    Bạch Tuyết, Mỹ Châu&#8230; hay út Trà ôn, Minh                    Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh&#8230; trên sân                    khấu phía Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Một giọng ca hay                    trên sân khấu chỉ có thể được                    coi là hoàn hảo nếu không tách rời nghệ                    thuật sân khấu biểu diễn. Vì vậy,                    tiêu chuẩn thứ hai của giọng ca hay                    là biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa                    ca và diễn. Nếu diễn viên chỉ chú ý                    đến lời hát mà không quan tâm đến                    nhân vật thì khán giả chỉ có thể nhớ                    đến con người thật của anh                    ta chứ hoàn toàn không gắn với một hình                    tượng nhân vật nào cả. Ðiều đó                    giống như là nghe hát những bài vọng                    cổ hơn là một vai diễn ca hay. Ngược                    lại, nếu diễn viên diễn xuất thật                    hay mà ca dở thì mọi người lại                    không nghĩ mình đang xem cải lương!                    Cần thiết phải có sự kết hợp                    hài hòa, nếu không xem như thất bại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: Arial;">Trong cải lương,                    giọng ca là vô cùng quan trọng nhưng không                    phải là tất cả. Vì thế, có được                    một giọng ca &#8220;trời phú&#8221; thì cần phải                    rèn luyện, trau dồi để ngày càng tiến                    bộ hơn với những vai diễn thật                    sự có &#8220;hồn&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: xx-small;">(Sưu tầm: VTT)</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/th%e1%ba%bf-nao-la-m%e1%bb%99t-gi%e1%bb%8dng-ca-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng-hay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phong cách &#8211; Âm điệu</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/phong-cach-am-di%e1%bb%87u/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/phong-cach-am-di%e1%bb%87u/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:44:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=269</guid>
		<description><![CDATA[Chúng ta đều biết không có một nền âm nhạc nào không mang tính kế thừa và phát triển, hai mặt này đi song song với nhau, cùng nằm trong hiện tượng văn hoá-nghệ thuật qua nhiều thế hệ, bắt gốc từ yếu tố tộc người trong thời kỳ sơ khai. Nó đã ăn sâu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/1081849871_hinh17.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-270" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="1081849871_hinh17" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/1081849871_hinh17.jpg" alt="" width="130" height="129" /></a>Chúng ta đều biết                    không có một nền âm nhạc nào không mang tính                    kế thừa và phát triển, hai mặt này đi                    song song với nhau, cùng nằm trong hiện tượng                    văn hoá-nghệ thuật qua nhiều thế                    hệ, bắt gốc từ yếu tố tộc                    người trong thời kỳ sơ khai. Nó                    đã ăn sâu và tác động vào điều                    kiện tâm-sinh lý của con người, và mang                    tính di truyền. Nó là một hiện tượng                    mang tính qui luật tạo thành mầm mống                    cho ngôn ngữ âm nhạc dân tộc. Âm nhạc                    cải lương cũng không tách khỏi qui                    luật này.</span></p>
<p style="text-align: justify;">Người ta thường nói cải lương                    xuất phát từ Nam Bộ, đó là cách nói rút                    gọn, nhưng đứng về mặt lịch                    sử thì nhạc cải lương là một                    loại nhạc sân khấu, được phát                    triển dựa trên phong trào ca nhạc tài tử                    (phong trào chơi nhạc không chuyên nghiệp lan                    rộng khắp Nam bộ thời trước).                    Loại nhạc này bắt nguồn từ nền                    ca nhạc dân gian lâu đời của nước                    ta. Nó nằm trong kho tàng văn hóa dân tộc,                    và đồng thời phát triển với những                    cuộc di dân về phương Nam của ông                    cha ta. Cũng những cây đàn ấy, càng đi                    khỏi vùng đất Tổ thì càng trở nên                    linh động với những màu sắc mới                    lạ và biến thành một loại hình nghệ                    thuật độc đáo dân tộc. Có thể                    nói đó là đức tính của con người                    Việt Nam được hun đúc qua những                    cuộc di dân lớn, đấu tranh với                    thiên nhiên khắc nghiệt, vượt qua muôn                    nghìn khó khăn gian khổ để xây dựng                    thôn ấp, phát triển xã hội.</p>
<p style="text-align: justify;">Âm nhạc cải lương chịu                    ảnh hưởng của hai nền nhạc                    lớn đã có từ thời cổ và tồn                    tại đến bây giờ, đó là nền                    ca hát dân gian và nền nhạc khí dân gian. Hai nền                    nhạc này tạo cho cải lương một                    phong cách đặc biệt, do đó trong âm nhạc                    cải lương, yếu tố ca hát và yếu                    tố nhạc khí cùng thúc đẩy nhau phát triển                    và tạo ra một hình thức đối lập                    trong nhiều bè, mở đường cho sự                    nảy nở của tính chất sân khấu.                    Tại Nam Bộ, hiện nay nhân dân chỉ còn                    được nghe khí nhạc thuộc loại                    tế tự (nhạc lễ) còn âm hưởng                    của nhạc cung đình thì đã thuộc                    về dĩ vãng.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhạc cải lương được                    hình thành từ trong lòng người Việt Nam                    cần cù và gian khổ, lớn lên trong những                    thử thách đầy khó khăn nguy hiểm                    mà con người đấu tranh để sinh                    tồn. Nhạc miền Trung khi phát triển                    vào Nam bộ thì bị mất một phần                    đặc điểm, chủ yếu là bị                    lệ thuộc vào tiết tấu sinh hoạt                    và ngôn ngữ của người dân Nam bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phong trào dân ca được quần                    chúng ưa thích dần dần phát triển trong                    toàn Nam bộ và trở thành phong trào ca tài tử.                    Số người biết đàn biết ca                    ngày càng đông, nhất là ở vùng nông thôn, với                    hình thức nghệ thuật đơn giản                    tao nhã như vậy, người nông dân nào cũng                    có thể học tập được. Trong                    khối quần chúng to lớn, sau này đã xuất                    hiện nhiều nhân tài của nghệ thuật                    âm nhạc và sân khấu cải lương. Nhạc                    tài tử dần dần phát triển về nội                    dung lẫn hình thức, tiếp thu thêm những                    luồng nhạc khác như dân ca địa phương,                    hò, lý, nói thơ&#8230;đồng thời có một                    sự cách tân trong toàn bộ nhạc lễ: trước                    kia nhạc lễ chỉ là loại khí nhạc,                    sau khi được cách tân thì trở thành những                    ca khúc tự sự với nội dung phản                    ánh tinh thần của thơ ca truyền thống                    như: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Kim Vân                    kiều, Lục Vân Tiên&#8230; Phong trào đó phát triển                    từ thành thị đến nông thôn thành nhu                    cầu thiết yếu của các tầng lớp,                    kể cả giới trí thức trong những                    cuộc liên hoan, hội hè, cưới hỏi                    và song song với sự phát triển đời                    sống vật chất, nhạc tài tử đem                    đến cho họ một tình cảm mới                    mẻ.</p>
<p style="text-align: justify;">Phong trào tạo thành những trung                    tâm như Sài Gòn, Chợ Lớn, Cần Thơ,                    Bạc Liêu&#8230; Ngoài những cố gắng sáng                    tạo thêm hình loại khúc thức mới, các                    nhà âm nhạc còn khái quát hóa toàn bộ hệ thống                    điệu thức trong nhạc truyền thống                    và phân chia thành các loại hơi chủ yếu                    như: hơi Bắc, hơi Nam, hơi Oán, v.v..</p>
<p style="text-align: justify;">Hơi Bắc khái quát các điệu                    thức mang tính chất trong sáng, vui khỏe.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơi Nam khái quát các điệu thức                    mang tính chất trang nghiêm và đồng thời                    được phân chia thành một số hơi                    cụ thể như sau: hơi Xuân, hơi Ai,                    hơi Ðảo.</p>
<p style="text-align: justify;">Hơi Oán là hơi được                    sáng tạo sau này, hoàn toàn thoát ly những hình                    thức cấu tạo theo kiểu nhạc lễ,                    đó là hơi thở của cuộc sống                    thời bấy giờ.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự phân chia thành các loại hơi,                    xuất phát từ các mẫu giai điệu                    hoặc điệu thức giai điệu có                    tác dụng lập thành các mô hình âm thanh, và xếp                    loại các âm hình cơ bản (motif) được                    sử dụng trong quá trình nhạc khúc. Trong thực                    tế đời sống hằng ngày của                    nhân dân ta, chúng được cấu trúc trên                    nguyên tắc tập hợp và mang những ý nghĩa                    cụ thể đã trở thành một tập                    quán trong sự sáng tạo âm nhạc qua nhiều                    thời đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðể minh hoạ, dưới đây                    sẽ giới thiệu một lớp Văn                    Thiên Tường nhan đề là Bá Lý Hề:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Vì tình kia thân sanh sao đắng                    cay</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thay thương thay đương                    khi gian truân</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Bâng khuâng lúc chia tay</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Thiếp yểm lụy ngỏ                    cùng chàng</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Vì cảnh nhà hàn vi<br />
Nên mới chia ly<br />
Khi đưa nhau nắm tay dặn dò<br />
Ðến lúc đắc lộ chàng có nghĩ<br />
Ðến chút tình tào khang<br />
Tay dâng chén này hôm nay<br />
Khuyên lương nhân<br />
Vững lòng rủi dong lần bước sang<br />
Cách núi ải</em></p>
<p style="text-align: justify;"><em>Non cao vực thẳm ráng dò<br />
Em lo đương khí<br />
Qua đèo ải ngăn ghềnh đá chập                    chồng<br />
Sớm thơ nhạn tả mấy hàng<br />
Cho nhãn những điều<br />
Ðiều ấm lạnh dường bao</em></p>
<p style="text-align: justify;">Trên đây là lời ca diễn tả                    tâm trạng vợ Bá Lý Hề tiễn chồng                    lên đường lập công danh. Hình thức                    cấu trúc của loại này, khác với cấu                    trúc chân phương của nhạc lễ, chịu                    ảnh hưởng hình thức thơ liên hoàn,                    mỗi đoạn gồm tám câu.</p>
<p style="text-align: justify;">Về mặt nghệ thuật, nhạc                    tài tử trong giai đoạn này đã đóng                    góp nhiều yếu tố mới trong đời                    sống âm nhạc của quần chúng, được                    bà con nông dân ưa mến và bảo vệ đã                    tiến đến một thời kỳ rực                    rỡ hơn bao giờ hết, mở đầu                    cho sự xuất hiện một loại hình                    nghệ thuật mới, đó là nghệ thuật                    sân khấu cải lương. Từ một                    hình thức ca hát thính phòng của phong trào nhạc                    tài tử, một bộ phận tách ra mang tính                    chất diễn xướng (nói lối, ngâm                    thơ, ca hát) tức là hình thức ca ra bộ                    (vừa ca vừa ra bộ). Như vậy, đứng                    về mặt nghiên cứu của âm nhạc,                    chúng ta thấy có hai phong cách, trong phương                    pháp diễn tấu nhạc cụ và ca hát, đó                    là phong cách tài tử và phong cách cải lương.</p>
<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p><strong>Phong cách tài tử:</strong> mang tính chất                      thính phòng, không đông người, được                      tổ chức ở trong nhà, công viên, trên thuyền                      lúc đêm trăng đi sâu vào chiều sâu của                      tình cảm, người đàn và hát chủ                      yếu là để phục vụ người                      nghe.</p>
<p><strong>Phong cách cải lương:</strong> thể                      hiện tính sân khấu, vì trung tâm của nghệ                      thuật diễn xuất là diễn xuất,                      các bộ môn nghệ thuật khác như âm nhạc,                      giúp nó đạt đến một hiệu                      quả nhất định, hợp thành toàn                      bộ một hình thức nghệ thuật                      sân khấu.</p>
</div>
</blockquote>
<div style="text-align: justify;">
<p>Vấn đề ca hát hoặc diễn                    tấu nhạc cụ trong cải lương                    cũng phải mang tính chất hành động-                    không như biểu diễn theo phong cách tài tử                    vì đặc trưng của sân khấu cải                    lương là ca hát. Ca hát tài tử và ca hát sân                    khấu là hai lĩnh vực khác nhau và trong mỗi                    lĩnh vực đều có những nghệ                    sĩ tiêu biểu. Chẳng hạn, trong ca hát                    sân khấu cải lương, có những ngôi                    sao như <em>Phùng Há, Ba Vân, Năm Châu.</em>.. và                    những ca sĩ tài tử nổi tiếng như                    cô <em>Tư Sang, cô Ba Bến Tre, cô Tư Bé, Năm                    Nghĩa.</em>..Những tác giả âm nhạc tài                    tử như ông <em>Sáu Lầu (Cao Văn Lầu),                    ông Bảy Triều</em>, những tác giả nhạc                    sân khấu như các ông <em>Mộng Vân, Bảy                    Nhiêu, Tư Chơi, Sáu Hải v v&#8230; </em>đã                    đóng góp nhiều sáng tác mới phù hợp với                    đà phát triển của nghệ thuật cải                    lương, trong đó có bài vọng cổ cho                    đến bây giờ đã trở thành một                    chủ đề lớn về âm nhạc, mà                    nhiều nghệ sĩ nhờ đấy phát                    huy một sức sáng tạo và xây dựng nên                    sự nghiệp nghệ thuật cho bản thân                    mình.</p>
<p>Nếu như những hạt giống                    đó không nảy mầm từ trong lòng dân tộc                    và nuôi dưỡng của nhân dân qua nhiều                    thế hệ, thì nghệ thuật cải lương                    không thể tồn tại cho đến ngày                    hôm nay.</p>
<p>Âm nhạc cải lương hơi                    nhẹ nhàng vì dùng đờn dây tơ và dây kim,                    không có kèn trống như hát bội. Có sáu thứ                    đờn thường dùng trong điệu                    cải lương như sau:</p>
<p><strong>1. Ðờn kìm</strong>: đờn Kìm cũng                    gọi là &#8220;<strong>Nguyệt cầm</strong>&#8221; có hai dây tơ                    và tám phím. Tiếng kìm tuy không trong và thanh như                    tiếng Tranh hay Lục huyền cầm, nhưng                    cũng có âm hưởng nhiều nên khi hòa với                    cây Tranh nghe rất hay. Tùy hơi cao thấp của                    diễn viên, đờn Kìm có thể đờn                    năm dây Hò khác nhau.</p>
<p><strong>2. Ðờn Tranh</strong>: đờn Tranh                    hay đờn <strong>Thập Lục</strong> có 16 dây. Tiếng                    đờn Tranh được thanh tao nhờ                    dùng dây kim và nhấn tiếng có ngân nhiều.                    Cũng như cây kìm, đờn Tranh có thể                    đổi bực dây Hò tùy theo hơi cao thấp                    của người ca.</p>
<p><strong>3. Ðờn Cò</strong>: Cây Cò, cũng gọi                    là <strong>đờn Nhị</strong>, có hai dây tơ, không                    có phím và dùng cây cung để kéo ra tiếng. Ðờn                    Cò là cây đờn đắc dụng nhất                    của âm nhạc Việt Nam. Nó chẳng khác                    nào cây Violon trong âm nhạc Âu Mỹ. Luôn luôn có                    mặt torng hát Bội, Cải lương, nhạc                    Tài tử,&#8230;</p>
<p><strong>4. Ðờn Sến</strong>: Cây Sến                    có hai dây tơ và có đủ bậc như cây                    Banjo, nên đờn ít nhấn và có nhiều chữ                    lợ nghe ngộ. Có khi đờn ba dây nghe hơi                    như đờn Tỳ.</p>
<p><strong>5. Guitare</strong>: Cây Guitare cũng  gọi                    <strong>Lục huyền cầm hay Tây ban cầm</strong>,                    có sáu dây kim, nhưng thường đờn                    có năm dây. Tiếng thanh như đờn Tranh,                    khi đờn bực cao.</p>
<p><strong>6. Violon</strong>: Cây Violon, cũng có  tên                    là <strong>Vĩ Cầm</strong>, có bốn dây tơ và cung                    kéo như đờn Cò. đờnnày dùng phụ                    họa với cây Guitare hay cây Tranh để                    đờn Vọng cổ nghe hay, nhưng ít dùng                    đờn các bản khác vì tiếng nó kêu lớn                    làm lấn áp mấy cây đờn kia.</p>
<p><strong>7.Cây Sáo</strong>: Cây hay ống Sáo,  hoặc                    ống Tiêu, cũng có dùng trong điệu Cải                    lương, nhưng nó có một bậc Hò, không                    thay đổi. Thành thử người ta phải                    theo bậc Hò bất di bất dịch ấy.</p>
<p><strong>8. Cây Cuỗn</strong>: Cây Cuỗn giống                    như cây Kèn, nhưng không có cái Loa.</p>
<p>Âm điệu</p>
<p>Bài ca Cải lương đặt                    theo bản đờn, nên kịch sỹ phải                    tùy âm nhạc, không được tự do phô                    diễn hết tài năng của mình như trong                    điệu hát Bội. Ca dư hơi thì trễ                    đờn, còn thiếu hơi dứt trước                    đờn. Kịch sỹ bị bó buộc trong                    khuôn khổ nhịp đờn, dầu có hơi                    hám nhiều cũng không thể vượt ra                    ngoài nhịp vì sợ ca lỗi nhịp.Lúc sau                    này, trong điệu Cải lương có bản                    Vọng cổ thêm nhiều nhịp. Bài ca vọng                    cổ đặt không ăn sát câu đờn,                    miễn vô đầu và dứt câu đờn,                    ca cho trúng hơi, trúng nhịp. Nhờ vậy,                    có nhiều kịch sỹ được tự                    do phô bày hết khả năng của mình.</p>
<p>Một khuyết điểm thứ                    hai là đương nói chuyện kế bắt                    qua ca. Trừ một ít danh ca biết cách &#8220;mở                    hơi&#8221; cho câu ca của mình có hứng thú, còn phần                    đông vô ca nghe khô khan lã chã lắm, không có mùi                    vị chút nào. Lỗi ấy một phần do                    ban âm nhạc thờ ơ, không thuộc chỗ                    nào sắp ca đặng giao đờn trước                    hầu gợi ý cho khán giả có cảm giác vui                    buồn trước khi nghe ca, như bên âm nhạc                    hát Bội.</p>
<p>Cải lương được                    chỗ ưu điểm là nhờ âm nhạc                    biết tùy hơi cao thấp của kịch                    sĩ để lên dây Hò, nên kịch sỹ ca                    đúng hơi &#8220;thiên phú&#8221; của mình không rán hơi                    quá như bên hát Bội.</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/phong-cach-am-di%e1%bb%87u/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ðặc điểm của sân khấu cải lương</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/%c3%b0%e1%ba%b7c-di%e1%bb%83m-c%e1%bb%a7a-san-kh%e1%ba%a5u-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/%c3%b0%e1%ba%b7c-di%e1%bb%83m-c%e1%bb%a7a-san-kh%e1%ba%a5u-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:38:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Ðặc điểm của sân khấu cải lương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=262</guid>
		<description><![CDATA[Năm 1920 đoàn hát mang tên Tân Thinh ra mắt khán giả, Tân Thinh không dùng tên gánh mà dùng tên đoàn hát và ghi rõ đoàn hát cải lương, dưới bảng hiệu có treo đôi liễn như sau: Cải cách hát ca theo tiến bộ Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Ðôi liễn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>Năm 1920 đoàn hát mang tên Tân  Thinh                    ra mắt khán giả, Tân Thinh không dùng tên gánh mà                    dùng tên đoàn hát và ghi rõ đoàn hát cải lương,                    dưới bảng hiệu có treo đôi liễn                    như sau:</p>
<ul>
<li>
<div>Cải cách hát ca theo tiến bộ</div>
</li>
<li>
<div>Lương truyền tuồng                      tích sánh văn minh.</div>
</li>
</ul>
<div>
<p>Ðôi liễn ấy đã nêu lên những                    đặc điểm cơ bản của sân                    khấu cải lương. Như trên đã                    nói, cải lương vốn là một động                    từ mang nghĩa thông thường trở thành                    một danh từ riêng. Cải lương có                    nghĩa là thay đổi tốt hơn khi so                    sánh với hát bội. Sân khấu cải lương                    là một loại hình sân khấu khác hẳn với                    hát bội cả về nội dung vở soạn                    lẫn nghệ thuật trình diễn.</p>
<p><strong><big><big>1- Bố cục</big></big></strong></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-263" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="ddiem" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem.jpg" alt="" width="162" height="230" /></a>Các  soạn                    giả đầu tiên của sân khấu cải                    lương vốn là soạn giả của                    sân khấu hát bội. Nhưng các soạn giả                    của thuộc lớp kế tục thì nghiêng                    hẳn về cách bố cục theo kịch nói:                    vở kịch được phân thành hồi,                    màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự                    tiến triển của hành động kịch.                    Vai trò của soạn giả, đạo diễn                    không lộ liễu trước khán giả mà                    ẩn sau lưng nhân vật.</p>
<p>Ban đầu, các vở viết về                    các tích xưa (mà người ta quen gọi là                    tuồng Tàu) có khi cò                   n giữ ít nhiều kiểu bố cục phảng                    phất hát bội, nhưng các vở về đề                    tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội)                    thì hoàn toàn theo bố cục của kịch nói.                    Càng về sau thì bố cục của các vở                    cải lương (kể cả các vở về                    đề tài xưa cũng theo kiểu bố                    cục của kịch nói). (Nguyễn Thành Châu,soạn                    giả, đạo diễn kiêm diễn viên, 40                    năm trong nghề đã nâng cao trình độ                    Cải lương của nước nhà)</p>
<p><big><big><strong>2- Ðề tài và cốt                    truyện</strong></big></big></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem1.jpg"><img class="alignright size-full wp-image-264" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="ddiem1" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem1.jpg" alt="" width="230" height="202" /></a>Các vở                    cải lương ngay từ đầu đều                    khai thác các truyện Nôm của ta như Kim Vân                    Kiều, Lục Vân Tiên hoặc các câu truyện                    trong khung cảnh xã hội Việt Nam.</p>
<p>Sau đó chiều theo thị hiếu                    của khán giả sân khấu cải lương                    cũng có một số vở soạn theo các                    truyện, tích của Trung Quốc đã được                    đưa lên sân khấu hát Bội và được                    khán giả rất ưa thích.</p>
<p>Sau này nhiều soạn giả, kể                    cả soạn giả xuất thân từ tân học                    cũng soạn vở dựa theo truyện xưa                    của Trung Quốc hoặc dựng lên những                    cốt truyện với nhân vật, địa                    danh có vẻ của Trung Quốc nhưng những                    cảnh ngộ, tình tiết thì của xã hội                    Việt Nam.<br />
(Ngọc Giàu trong vở &#8220;Tình yêu và lời đáp&#8221;)</p>
<p><strong><big><big>3- Ca nhạc</big></big></strong></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem2.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-265" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="ddiem2" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem2.jpg" alt="" width="142" height="230" /></a>Các  loại                    hình sân khấu như hát bội, chèo, cải                    lương được gọi là ca kịch                    vì ở đây ca kịch giữ vai trò chủ                    yếu. Là ca kịch chứ không phải là nhạc                    kịch vì soạn giả không sáng tác nhạc                    mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc                    cho phù hợp với các tình huống sắc thái                    tình cảm.</p>
<p>Như vậy, nói chung về ca nhạc,                    sân khấu cải lương sử dụng                    cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú                    của Nam Bộ. Trên bước đường                    phát triển nó được bổ sung thêm                    một số bài bản mới (như Dạ                    cổ hoài lang sau này mang tên Vọng cổ là một                    dân ca nổi tiếng của sân khấu cải                    lương). Nó cũng gồm một số                    điệu ca vốn là nhạc Trung Quốc                    nhưng đã được phổ biến                    từ lâu trong nhân dân Việt Nam, đã Việt                    Nam hóa.<br />
<span style="color: #ff0000;"><strong> </strong></span>(Phương                     Khanh, một trong những diễn viên nổi                    tiếng ở buổi đầu sân khấu                    Cải lương)</p>
<p><strong><big><big>4-Diễn xuất</big></big></strong></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem3.jpg"><img class="alignright size-full wp-image-266" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="ddiem3" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem3.jpg" alt="" width="153" height="227" /></a>Diễn viên                    cải lương diễn xuất một cách                    tự nhiên, nhất là khi diễn về đề                    tài xã hội thì diễn viên diễn xuất như                    kịch nói. Khác với kịch nói ở chỗ                    đáng lẽ nói, diễn viên ca, cho nên cử                    chỉ điệu bộ cũng uyển chuyển,                    mềm mại theo lời ca. Dù không giống                    như cử chỉ điệu bộ của                    diễn viên kịch nói, mà vẫn gần với                    hiện thực chứ không cường điệu                    như hát bội.</p>
<p>Cải lương cũng có múa và                    diễn võ nhưng nhìn chung là những động                    tác trong sinh hoạt để hài hoà với lời                    ca chứ không phải là hình thức bắt buộc.                    <em>(Diễn viên Kim Lan)</em></p>
<p><strong><big><big>5-Y phục</big></big></strong></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem4.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-267" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="ddiem4" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/ddiem4.jpg" alt="" width="158" height="230" /></a>Trong  các vở                    về đề tài xã hội diễn viên ăn                    mặc như nhân vật ngoài đời. Trong                    các vở diễn về đề tài lịch                    sử dân tộc, về các truyện cũ của                    Trung Quốc, phóng tác từ những câu chuyện,                    hay các vở kịch từ nước ngoài thì                    y phục của diễn viên cũng được                    chọn lựa để gợi ra xuất xứ                    của cốt truyện và của nhân vật,                    nhưng cũng chỉ mới có tính là ước                    lệ thôi chứ chưa đúng với hiện                    thực.</p>
<p><em>(Thanh Thanh Tâm, một trong những                     giọng ca hay được nhiều người                    mến mộ ở Sài gòn)</em></p>
<p>(Sưu tầm : VTT)</p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/%c3%b0%e1%ba%b7c-di%e1%bb%83m-c%e1%bb%a7a-san-kh%e1%ba%a5u-c%e1%ba%a3i-l%c6%b0%c6%a1ng/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Lịch sử hình thành</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-hinh-thanh/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-hinh-thanh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:34:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghệ thuật cải lương]]></category>
		<category><![CDATA[Cải lương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=259</guid>
		<description><![CDATA[Vài nét Lịch sử Hai tiếng &#8220;Cải lương&#8221; có nghĩa là &#8220;Sửa đổi cho tốt hơn&#8220;. Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát Chèo hay hát Tuồng (ở Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra đời, người mình [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><strong>Vài nét Lịch sử</strong></p>
<p>Hai tiếng &#8220;<strong>Cải lương</strong>&#8221; có                    nghĩa là &#8220;<strong>Sửa đổi cho tốt hơn</strong>&#8220;.                    Từ xưa ở Việt Nam không có lối                    diễn tuồng nào khác hơn là <strong><em>hát</em></strong> <strong><em>Chèo</em></strong> hay <strong><em>hát</em></strong> <strong><em>Tuồng</em></strong> (ở Bắc Phần)                    và <strong><em>hát bội</em></strong> (ở Trung và                    Nam Phần). Ðến 1917, khi <strong><em>cải lương</em></strong> ra đời, người mình nhận thấy                    điệu hát này có thể tân tiến hơn                    điệu hát bội, nên cho đó là một                    việc cải thiện điệu hát xưa                    cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người                    mình dùng hai tiếng &#8220;Cải lương&#8221; để                    đặt tên cho điệu hát mới mẻ                    này.</p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/cailuong.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-260" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="cailuong" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/cailuong.jpg" alt="" width="230" height="167" /></a>Trước                    kia ở rải rác trong các tỉnh Nam Phần                    (Nam bộ) có những ban tài tử đờn                    ca trong các cuộc lễ tư gia, tân hôn, thăng                    quan, giỗ,&#8230; Nhưng không bao giờ có đờn                    ca trên sân khấu hay trước công chúng. Qua                    năm 1910, ở Mỹ Tho có ban tài tử của                    Nguyễn Tống Triều, tục gọi Tư                    Triều gồm bản thân Tư Triều (chơi                    đờn kìm), Chín Quán (đờn độc                    huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy                    Vô (đờn cò),Cô Hai Nhiễu (đờn tranh)                    và Cô Ba Ðắc (ca). Ban tài tử này đờn                    ca rất hay vì phần đông đã được                    chọn đi trình bày cổ nhạc Việt                    Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới                    về.</p>
<p>Năm 1911, Nguyễn Tống Triều                    muốn đưa ca nhạc ra trước công                    chúng, nên thương lượng với chủ                    nhà hàng &#8220;Minh Tân khách sạn&#8221; ở ngang ga xe lửa                    Mỹ Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn                    ca giúp vui cho thực khách. Người đến                    nghe ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến                    này có kết quả khả quan, Thầy Hộ,                    chủ rạp hát bóng Casino, phía sau chợ Mỹ                    Tho, muốn cho rạp hát mình đông khán giả                    bèn mới ban tài tử đến trình diễn                    mỗi tối thứ bảy và thứ tư                    trên sân khấu và đã được công chúng                    hoan nghênh nhiệt liệt.</p>
<p>Sân khấu thời bấy giờ cũng được                    dàn dựng rất đơn giản. Cái màn bạc                    dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót                    một bộ ván, trước bộ ván có để                    một cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có                    để cây kiểng. Các tài tử đều                    ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục                    xem thật nghiêm trang.</p>
<p>Sáng kiến đưa đờn                    ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều                    từ năm 1912 tại Mỹ Tho đã lan tràn                    đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam                    Phần. Năm 1913 – 1914, chủ nhà hàng ở                    sau chợ Mới, Sài Gòn, là &#8220;Cửu long giang&#8221;                    nghe danh tiếng ban tài tử nên đã xuống                    tận nơi để mời về. Ông Năm                    Tú là người có công nhất trong việc gây                    dựng lối hát Cải lương buổi                    ban đầu. Ông mướn thợ vẽ tranh                    cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát                    Tây Sài Gòn. Ông mua sắm y phục cho đào kép                    khá chu đáo và nhờ nhà văn Trương                    Duy Toản soạn tuồng.</p>
<p>Ông cất một cái rạp hát rộng                    lớn và đẹp đẽ gần chợ                    Mỹ Tho để cho ban ca kịch của ông                    trình diễn. Ðiệu hát cải lương chính                    thức hình thành từ đó và ngày càng phát triển                    mạnh, nhiều Ban được thành lập.</p>
<p>Có thể nói, sân khấu cải lương                    là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh                    xã hội Việt Nam, chính xác hơn là xã hội                    Nam bộ lúc bấy giờ. Chính vì vậy nó                    trưởng thành rất mau. Vài ba năm đầu                    thập kỷ 20, nó còn đang chập chững                    những bước đầu tiên. Năm 1931                    nó đã chính thức được giới                    thiệu ở ngoài nước với danh nghĩa                    một loại hình nghệ thuật hiện                    đại ngang hàng tuồng chèo đã có nhiều                    thế kỷ lịch sử. Nó ra đời                    thu hút được đông đảo khán giả                    và hát bội chịu phần thua kém. Từ Nam                    Kỳ nó Bắc tiến và tuồng, chèo dần                    dần nhường bước. Trong hơn                    nửa thế kỷ, sân khấu cải lương                    vượt xa các loại hình sân khấu khác về                    thế mạnh, có thời kỳ nó giữ địa                    vị độc tôn, thu hút khán giả nhiều                    hơn các loại sân khấu khác, chỉ kém có                    điện ảnh.</p>
<p>Tìm về nơi đầu nguồn                    của sân khấu cải lương, người                    ta gặp những sự kiện xã hội, lịch                    sử sau đây: Nam Bộ, xứ Nam kỳ cũ,                    vốn có một phong trào ca nhạc tài tử.                    Nó là sự phát triển của phong trào đàn                    cây.</p>
<p>Trong các cuộc tế lễ, ma chay,                    người ta mời ban nhạc tới diễn                    tấu, không dùng các loại trống, kèn và các                    loại nhạc cụ gõ khác và chơi một                    số bản của nhạc lễ có viết                    thêm lời ca và một số bản của                    nhã nhạc từ miền Trung đi vào.</p>
<p>Phong trào này dần dần phát triển sâu rộng                    khắp toàn dân. Nhạc cụ được                    bổ sung, cải tiến. Người ta thêm                    vào các bài ca nhạc dân gian hoặc sáng tác thêm                    những bài hát mới. Các địa phương                    có những ban ca nhạc tài tử nổi tiếng                    với các danh cầm như: Ba Ðại, Hai Trì,                    Nhạc khị, Năm Triều, Bảy Triều&#8230;                    và các danh ca như Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm,                    Hai Nhiều, Hai Cúc&#8230; tiếng tăm đồn                    đại khắp nơi. Phong trào ca nhạc                    tài tử lôi cuốn mọi giới đồng                    bào nhất là công chức, thợ thủ công,                    nông dân, công nhân.</p>
<p>Khởi đầu, nhạc và lời                    ca được biểu hiện qua hình thức                    Ca-ra-bộ (một trình thức diễn xuất                    thô sơ) với một số nghệ nhân không                    chuyên, được phục vụ trong những                    buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu                    hậu ở thôn xóm và bài ca được hâm                    mộ nhất thời bấy giờ là &#8220;Bùi Kiệm                    thi rớt trở về&#8221;.</p>
<p>Ca-ra-bộ được đông                    đảo quần chúng hâm mộ, dần dần                    phát triển và con đường phát triển                    tất yếu của nó là đi vào nghệ thuật                    sân khấu, biến hát bội thành &#8220;hát bội                    pha cải lương&#8221; rồi tiến lên chuyển                    mình thành một loại hình riêng để diễn                    các loại tuồng tàu, tuồng kiếm hiệp                    vào đầu và cuối thập kỷ 40. Ngày                    càng được quần chúng hâm mộ thưởng                    thức, nó tiến xa hơn trên đường                    nghệ thuật, với nhiều nghệ sĩ                    có tên tuổi tham gia và đến đầu                    thập kỷ 40, nó đã mang đầy đủ                    tính chất khá hoàn chỉnh. Và đặc biệt                    với Nghệ sĩ Nhân Dân Năm Châu, nó trưởng                    thành thành một loại sân khấu có tính nghệ                    thuật khá cao. Năm Châu vốn có học Tây,                    hâm mộ sân khấu Tây phương, nhất                    là kịch cổ điển Pháp, đã tâm huyết                    đưa số hiểu biết phong phú, đa                    dạng của mình vào cải lương, tạo                    thành một sân khấu riêng biệt &#8211; trường                    phái Năm Châu&#8221; với lực lượng nghệ                    sĩ lừng danh lúc bấy giờ là Phùng Há,                    Ba Vân, Tư út, Tư Anh và quí giá nhất là soạn                    giả Trần Hữu Trang, tác giả nhiều                    kịch bản nổi tiếng, trong đó có                    Ðời cô Lựu và Tô ánh Nguyệt cho đến                    nay, vẫn còn ghi sâu trong ký ức bao người.</p>
<p>Sau chiến tranh thế giới lần                    thứ nhất, thực dân Pháp cho du nhập                    vào nước ta những phim ảnh, sách báo                    và những đĩa hát, về sau có nhiều                    đoàn kịch hát Trung Quốc sang biểu diễn                    tại Sài Gòn.Do đó, nghệ thuật cải                    lương có cơ hội thu hút thêm tinh hoa sân                    khấu của nước ngoài như cách diễn                    xuất, sử dụng một số bài bản                    nước ngoài phù hợp với cách diễn                    tấu của dàn nhạc cải lương,                    học tập cách sử dụng bộ gõ bổ                    sung thêm kèn mới vào dàn nhạc cải lương.                    Trong giai đoạn này, âm nhạc cải lương                    chịu ảnh hưởng của phương                    pháp diễn tấu mang tính sân khấu xuất                    phát từ nội dung chủ đề của                    kịch bản.</p>
<p>Trong giai đoạn đầu của                    cải lương, đề tài khai thác của                    kịch chủ yếu dựa vào thơ ca được                    lưu truyền rộng rãi trong dân gian Việt                    Nam như: Kim Vân kiều, Lục Vân Tiên, Trưng                    Trắc Trưng Nhị v v&#8230; hoặc phóng tác                    theo các vở tuồng hát bội như: Phụng                    Nghi Ðình, Xử án Bàng Quí Phi, Mộc Quế Anh                    v v&#8230;</p>
<p>Âm nhạc được dùng trong                    các vở này bao gồm gần hết là các bài                    bản cải lương, trong dàn nhạc cải                    lương có các nhạc cụ của dàn nhạc                    tài tử, có nhạc cụ gõ và kèn hát bội.                    Từ năm 1930 trở đi khuynh hướng                    cải lương xã hội thực thụ                    ra đời dưới sự chỉ đạo                    của nhóm Năm Châu, Tư Trang, Năm Nở,                    Bảy Nhiêu, Tư Chơi v v&#8230; lúc đầu                    phỏng theo truyện phim và kịch của Pháp                    như: Bằng hữu binh nhung, Sắc giết                    người, Giá trị và danh dự v v&#8230;</p>
<p>Về sau nhóm này dựa vào đề tài Việt                    Nam như: Tội của ai, Khúc oan vô lượng,                    Tứ đổ tường v v&#8230; Các bài hát tây                    bắt đầu xuất hiện trên sân khấu                    cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng                    nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango  mysterieux                    (trong Ðóa hoa rừng). Lúc bấy giờ trong một                    đoàn cải lương xã hội có hai dàn                    nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi                    ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở                    trước sân khấu.</p>
<p>Trong những thời gian sau cải                    lương bị ảnh hưởng của                    một số khuynh hướng Quảng đông                    và kiếm hiệp nhưng những khuynh hướng                    này ít được người ủng hộ,                    nhất là ở các vùng nông thôn. Các vở có tính                    chất tâm lý xã hội đều dựa vào                    sự tích Việt Nam như Tô ánh Nguyệt, Ðời                    cô Lựu&#8230; nhưng về âm nhạc thì lại                    chịu ảnh hưởng ở âm nhạc                    Tây Âu.</p>
<p>Cải lương càng ngày càng hiện                    đại hóa và đó là công đầu của                    Năm Châu vì không có con người này, khó có một                    sự chuyển mình đầy tính cổ điển                    và nghệ thuật của cải lương.                    Do đó, có thể nói Năm Châu phải được                    đánh giá là vị &#8220;Tổ cải lương                    hiện đại&#8221;,  một vị tổ                    có thật&#8230;</p>
<p>Từ sau Hiệp định Geneve                    (1954), cải lương càng có cơ hội                    phát triển mạnh mẽ, trở thành một                    loại hình nghệ thuật, một bộ môn                    sân khấu có khả năng thu hút hàng đêm                    cả vạn triệu khán thính giả say mê đến                    với nó tại các nhà hát hay bên chiếc radio.</p>
<p>Do sáng kiến của ông Trần Tấn                    Quốc, một ký giả kỳ cựu, giải                    Thanh Tâm được thành lập năm 1958                    và liên tiếp mỗi năm kế sau đều                    có phát Huy chương vàng và Bằng danh dự                    cho những nam nữ nghệ sỹ trẻ tuổi                    có triển vọng nhất trong năm. Giải                    Thanh Tâm hiện thời được gọi                    là giải Trần<strong> </strong>Hữu Trang là giải                    thưởng có tiếng vang lớn trong giới                    nghệ thuật đặc biệt là nghệ                    thuật cải lương.</p>
<p>Nghiên cứu toàn bộ lịch sử                    cải lương qua những nét đại                    thể, ta thấy rõ ràng loại hình nghệ                    thuật này  mang một đặc điểm                    rất nổi bật. Ðó là nền nghệ thuật                    mang tính giải phóng của người nông dân                    bị áp bức và mất nước, phải                    vùng lên để chiến đấu cho sự                    sống còn của tầng lớp mình, dân tộc                    mình. Tiếng nói của họ là tiếng ca bất                    khuất và đã được thể hiện                    qua nhiều tác phẩm mà Ðời cô Lựu là                    một vở tiêu biểu. Tác giả của                    nó, Trần Hữu Trang vốn là một nông dân,                    một nghệ sĩ trí-thức.</p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: xx-small;">(Sưu tầm: VNT)</span></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/l%e1%bb%8bch-s%e1%bb%ad-hinh-thanh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

