<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Thoáng Sài Gòn -  Tôn Vinh Nét Đẹp Người Sài Gòn &#187; Người Nam Bộ</title>
	<atom:link href="http://thoangsaigon.com/category/van-hoa-nam-bo/nguoi-nam-bo/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://thoangsaigon.com</link>
	<description>All You Need To Know About Sai gon - HCMC - VietNam</description>
	<lastBuildDate>Thu, 02 Feb 2012 21:54:01 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.2</generator>
		<item>
		<title>&#8220;Công tử Bạc Liêu&#8221; ngày nay</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2011/03/cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-ngay-nay/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2011/03/cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-ngay-nay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Mar 2011 15:25:42 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Công tử Bạc Liêu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=1842</guid>
		<description><![CDATA[Khách sạn Công Tử Bạc Liêu.Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thương hiệu du lịch hấp dẫn của tỉnh Bạc Liêu. Tòa biệt thự của Ba Huy khi xưa nay trở thành Khánh sạn Công tử Bạc Liêu. Ngôi biệt thự của công tử Bạc Liêu được xây dựng từ năm 1919, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Khách sạn Công Tử Bạc Liêu.Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành  một thương hiệu du lịch hấp dẫn của tỉnh Bạc Liêu. Tòa biệt thự của Ba  Huy khi xưa nay trở thành Khánh sạn Công tử Bạc Liêu.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/mot-vong-mien-tay-bang-xe-may-phan-2.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1843" title="mot-vong-mien-tay-bang-xe-may-phan-2" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/mot-vong-mien-tay-bang-xe-may-phan-2.jpg" alt="" width="610" height="366" /></a><br />
Ngôi biệt thự  của công tử Bạc Liêu được xây dựng từ năm 1919, do kỹ sư người Pháp  thiết kế. Để đảm bảo độ bền và diện mạo kiến trúc, chủ nhân đã đặt hàng  và cho chuyên chở toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch  lát nền, gạch, khung sắt trang trí từ Pháp qua. Các bù loong, ốc vít  cho các chi tiết xây dựng đều được đóng dấu chìm mẫu tự P rất hoa mỹ,  chứng thực sản xuất tại thủ đô Paris. Người dân Bạc Liêu gọi đây là &#8220;Nhà  Lớn&#8221;. Không chỉ đẹp về kiến trúc, nội thất mà nhà Hội đồng Trạch cũng  qui tụ vô số đồ gỗ, sứ, đồng&#8230; quý giá. Những bảo vật đó đến nay không  còn do con cháu không giữ được, do mất mát vì chiến tranh hoặc những  nguyên nhân khác. Có hai món đồ quí hiện được giữ nguyên vẹn ở chùa Chén  Kiểu, Sóc Trăng là chiếc giường ngủ chạm khắc tuyệt mỹ và bộ bàn ghế  cũng chạm trổ công phu. Đây là hai món quà do Ba Huy hào phóng tặng nhà  chùa.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/chum-anh-kham-pha-dinh-thu-cong-tu-bac-lieu.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1844" title="chum-anh-kham-pha-dinh-thu-cong-tu-bac-lieu" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/chum-anh-kham-pha-dinh-thu-cong-tu-bac-lieu.jpg" alt="" width="450" height="303" /></a><br />
Hiện nay, ngôi biệt thự đó trở thành khách sạn Công Tử Bạc Liêu  (trực thuộc Văn phòng Tỉnh ủy Bạc Liêu) với 6 phòng ngủ. Trong đó 5  phòng bình thường và căn phòng Ba Huy từng ở trước đây có giá gấp đôi.  &#8220;Phòng công tử&#8221; có một giường đôi, ti vi, máy lạnh, một bàn viết, một tủ  áo và toilet khá rộng kế bên. Điểm độc đáo nhất của căn phòng này là  chiếc máy điện thoại có từ đời Pháp thuộc đến giờ vẫn sử dụng tốt. Căn  &#8220;phòng công tử&#8221; luôn đắt khách, nhất là người nước ngoài. Du khách muốn  nghỉ đêm tại đây buộc phải đặt phòng trước cả tháng. Cách khách sạn Công  Tử Bạc Liêu không xa, còn có một cụm khách sạn, nhà hàng khác cũng mang  tên Công Tử. Nhà Công tử Bạc Liêu hiện nay được bày biện, phục tráng  gần như nguyên trạng. Tuy nhiên do qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau  vật dụng trong gia đình đã thất lạc rất nhiều.</p>
<p>Sau sự kiện 30  tháng 4, 1975, Ba Huy mất đã 2 năm, gia đình còn lại của Ba Huy lâm vào  cảnh khốn khó, anh em, con cháu trong gia đình bỏ đi tứ xứ. Một người  con của Công tử bạc Liêu là ông Trần Trinh Đức phải trôi dạt lên Sài Gòn  và sau khi cô con gái lớn của ông bị lừa tình và mắc nợ, bị bệnh tâm  thần phân liệt, phải bán nhà trả nợ, gia đình ông làm đủ thứ nghể để mưu  sinh như bán giầy cũ, chạy xe ôm&#8230;. Năm 2009, gia đình ông được sự  giúp đỡ của các mạnh thường quân đã trở về Bạc Liêu sinh sống .</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2011/03/cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-ngay-nay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Giai thoại về Công tử Bạc Liêu xưa</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2011/03/giai-tho%e1%ba%a1i-v%e1%bb%81-cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-x%c6%b0a-va-nay/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2011/03/giai-tho%e1%ba%a1i-v%e1%bb%81-cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-x%c6%b0a-va-nay/#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Mar 2011 15:16:33 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Công tử Bạc Liêu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=1832</guid>
		<description><![CDATA[Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là Ba Huy) là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ ăn chơi. Vốn thành ngữ &#8220;Công tử Bạc Liêu&#8221; [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (1900-1973, còn có tên khác là  Ba Huy) là một tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930,  1940. Ngày nay, Công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ để chỉ những kẻ  ăn chơi.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/ici_nhacongtu_N.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1834" title="ici_nhacongtu_N" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/ici_nhacongtu_N.jpg" alt="" width="609" height="393" /></a><br />
Vốn thành ngữ &#8220;Công tử Bạc Liêu&#8221; ra đời từ những năm đầu thế kỷ  20. Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa  Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất, đã làm nảy sinh rất nhiều đại  điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu &#8220;Nhất Sỹ, Nhì  Phương, Tam Xường, Tứ Trạch&#8221; để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng  đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý  khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí  du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh  hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay  chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền  như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ &#8220;Công tử Bạc Liêu&#8221; có từ lúc ấy. Về  sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công  tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng đối với vị công  tử này. Từ đó &#8220;Công tử Bạc Liêu&#8221; trở thành danh xưng riêng của Ba Huy,  không một ai có thể tranh chấp.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Xuất thân</strong><br />
<a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/jj.bmp"><img class="alignleft size-full wp-image-1833" style="border: 1px solid black; margin-left: 9px; margin-right: 9px;" title="jj" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/jj.bmp" alt="" width="200" height="232" /></a>Trần  Trinh Huy, tên thật là Trần Trinh Quy sinh ngày 22 tháng 6 năm 1900,  nhưng do cho rằng cái tên &#8220;Quy&#8221; không sang trọng nên ông đổi lại thành  &#8220;Huy&#8221;. Ngoài tên Công tử Bạc Liêu, Trần Trinh Huy còn mang nhiều tên  khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền, sự thật thì Ba Huy  không là thành viên trong hội đồng nào), Hắc công tử (do nước da ngăm  đen và để phân biệt với Bạch công tử).</p>
<p style="text-align: justify;">Trần Trinh Huy là con trai  ông Trần Trinh Trạch, tức Hội Đồng Trạch[1], một người xuất thân là thư  ký làng, nhờ cưới được cô Tư, con gái của ông bá hộ Phan Văn Bì, người  có đất ruông nhiều nhất trong tỉnh Bạc Liêu, người ta tặng cho ông Bá hộ  là &#8220;Vua lúa gạo Nam Kỳ&#8221;. Ông Bá hộ chọn rể cho cô con gái thứ Tư trong  trường hợp đặc biệt. Hằng năm ông tới Tòa Bố (tòa Hành chánh) tỉnh đóng  thuế điền địa. Trong nhiều năm ông chấm viên thư ký điền địa tên Trần  Trinh Trạch là người đứng đắn đàng hoàng. Ông hỏi thăm gia thế thì biết  thầy ký Trạch chưa vợ. Ông mời về nhà chơi, tạo thuận lợi cho thầy ký  Trạch trông thấy cô con gái thứ tư của ông. Nhiều lần tới lui, hai bên  &#8220;mến tay mến chân&#8221;. Ông Bá hộ thấy hai đứa nhỏ &#8220;tình trong như đã mặt  ngoài còn e&#8221; liền làm lễ cưới. Ông cho con gái và rễ một sở đất để ra  riêng. Thầy ký Trạch xin nghỉ làm công chức điền địa để làm chủ điền.  Với trình độ văn hóa tương đối khá, lại có ông già vợ cho đất, giúp vốn  nên không bao lâu thầy kỳ Trạch phất lên. Với huê lợi hàng năm, ông sắm  thêm đất điền. Có điều ông Bá hộ không thích là đất ông tách bộ cho các  con của ông lần lượt chạy về tay chàng rể thứ tư. Nguyên do là các con  ông mê cờ bạc nên đem đất điền cầm cố nơi anh rể. Cầm cố lâu năm không  chuộc kể như mất luôn. Ông Bá hộ chỉ tự an ủi là &#8220;lọt sàng xuống nia&#8221;,  các sở đất đó không rơi vào người ngoài, thương con gái thì phải thương  rể. Nhờ vậy, Hội Đồng Trạch càng ngày càng giàu có, đồn điền ruộng lúa  có thể được xếp vào hàng bậc nhất miền Nam lúc bấy giờ. Có người viết:</p>
<p style="text-align: justify;">Nghèo đến thằng mình còn chạy quýnh<br />
Giàu như ông Trạch cũng buồn thiu</p>
<p style="text-align: justify;">Trần  Trinh Trạch là chủ sở hữu của 74 sở điền, với 110.000 ha đất trồng lúa,  gần 100.000 ha ruộng muối. Theo lời cháu chắt ông kể lại, toàn tỉnh Bạc  Liêu lúc bấy giờ (gồm 4 quận Vĩnh Lợi, Cà Mau, Vĩnh Châu, Giá Rai) có  13 lô ruộng muối thì 11 lô là của ông Hội Đồng Trạch, một lô còn lại của  cha sở và một lô của dân thường. Ông Trạch có 7 người con, 4 gái, 3  trai. Trong 3 người con trai của ông Trạch (Trần Trinh Đinh, Trần Trinh  Huy và Trần Trinh Khương) thì Ba Huy là ăn chơi hơn cả.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/vatdung.bmp"><img class="aligncenter size-full wp-image-1835" title="vatdung" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/vatdung.bmp" alt="" /></a>Những vật dụng mà gia đình ông Trần Trinh Huy đã sử dụng vẫn được lưu giữ đến nay.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Con người</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trần Trinh  Huy từng đi du học ở Pháp, sau ba năm về nước không một mảnh bằng, để  lại một người vợ Pháp và một đứa con ở lại Paris. Khi Ba Huy về nước ông  Trạch kéo gia đình lên Sài Gòn đón quí tử. Chiếc xe Ford đang dùng tốt  nhưng ông nói nhân sự kiện đặc biệt này phải sắm thêm một chiếc xe mới,  cho xứng với học hàm, học vị của cậu Ba, cho rạng mặt Trần gia.</p>
<p style="text-align: justify;">Trần  Trinh Huy là người cao lớn, khoảng 1,70 m, lực lưỡng nhưng không cục  mịch, trái lại dáng người rất thanh thoát, sang trọng, da đen, mày  rậm&#8230; người đầy sinh lực. Tính tình Huy rất dễ dãi và hào phóng. Người  trong nhà lầm lỗi, Huy cũng ít rầy la. Bà con ở xa lên thăm, Huy đều cho  tiền. Tá điền không thấy Huy đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ  Huy còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền Bàu Sàng ít ai oán ghét Ba Huy.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong  các mối quan hệ, Ba Huy là người khoáng đạt, không dè dặt và mưu toan  gì. Thời đó, các cậu công tử lẫn điền chủ điều chơi với người Pháp thì  rất khúm núm, nịnh nọt, gọi là &#8220;chơi thế&#8221;. Riêng Ba Huy thì cứ &#8220;toa toa&#8221;  &#8220;moa moa&#8221; sòng phẳng, ngang hàng. Nếu như trong mắt giới giang hồ tứ  chiếng, Ba Huy là một người ngon nhất Nam bộ, thì trong mắt người Pháp,  Huy được nể trọng vì có vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình.  Tánh của Ba Huy vị tha và coi tiền như rơm rác. Bút tích của Huy cho  thấy tuy nét chữ bay bướm nhưng lại rất xấu, chứng tỏ đó là một con  người thông minh, từng trải nhưng đường học vấn không đến nơi đến chốn.<br />
Ba  Huy cũng là người rất cởi mở, không cổ hủ, cực đoan như nhiều điền chủ  khác. Ông từng ủng hộ Việt Minh một lúc 13.000 giạ lúa. Công tử Bạc Liêu  còn tỏ ra là một con người tự trọng, đã hứa với Chính phủ những gì thì  ông sẽ làm thế ấy. Ông đã hứa với người lãnh đạo cao nhất của Tỉnh ủy  Bạc Liêu là giảm tô, không hợp tác với Pháp, gửi vải vóc thuốc men cho  kháng chiến và thực hiện đúng như vậy. Thích hội hè, Ba Huy có lẽ là  người tổ chức hội chợ và hội thi &#8220;Hoa hậu miệt đồng&#8221; đầu tiên ở đồng  bằng sông Cửu Long.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba Huy có bốn người vợ và rất nhiều nhân tình. Người vợ đầu là  người Pháp, trong thời gian Ba Huy đi học ở Paris. Về nước ông cưới một  người vợ ở Bạc Liêu là Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người  con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô Hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba  Huy lên Sài Gòn ở hẳn. Ông lấy thêm một bà nữa (bà Nguyễn Thị Hai) và  sinh được ba người con: Thảo, Nhơn, và Đức.</p>
<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/15b.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1838" title="15b" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/15b.jpg" alt="" width="350" height="543" /></a>Hắc công tử có người tình trong thời gian du học bên Pháp (phải)</p>
<p style="text-align: justify;">Bà cuối cùng, khoảng  năm 1968, Ba Huy dọn về căn nhà phố đường Nguyễn Du, Sài Gòn. Mỗi sáng  đứng trên lầu nhìn xuống, ông thấy một cô gái gánh nước đi qua đẹp quá.  Hỏi thăm thì đựơc biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Ba  Huy đến nhà ông già xin &#8220;đổi&#8221; căn nhà đó lấy cô gái. Ông già và cô gái  sau khi bàn bạc đồng ý. Và đó là người vợ cuối cùng của Ba Huy, kém ông  đến 50 tuổi. Bà sống chung thủy với ông đến ngày ông qua đời. Họ có ba  con trai và một con gái tên Hoàn, Toàn, Trinh và Nữ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba Huy còn  rất nhiều con với các nhân tình. Tuy những người đó không phải vợ chính  thức nhưng con cái của họ đều được Trần gia thừa nhận. Ông mất năm 1973 ở  Sài Gòn và được đưa về an táng trong phần mộ gia đình tại ấp Cái Dầy,  xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những giai thoại</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Ông  Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Huy đi vào các sở điền  bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc này là một sự kiện đặc biệt, Ba Huy đi đến  đâu tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa được nhìn thấy xe hơi,  ca nô bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn  đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả  miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại.</p>
<p style="text-align: justify;">Ba  Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri, chồng  bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Ông này làm quản lý,  điều hành gia sản cho ông Hội Đồng Trạch, dưới quyền ba Huy. Theo hợp  đồng, quản lý được hưỏng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm.  Chính vì vậy ông Henri mới bỏ &#8220;mẫu quốc&#8221; qua làm mướn cho bên vợ, mãi  đến tháng 4 năm 1975 mới về nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Công tử Bạc Liêu rất mê nghề  võ. Vào nữa đầu thế kỷ 20, học võ là một cái mốt với nhận thức: Học võ  để nâng cao cái khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ba Huy không học võ  Tây hay võ Ta mà học võ Xiêm. Ông ta đã cất công qua Xiêm mướn một ông  thầy thượng hạng về dạy cho mình và Tám Bò, là em út của ông ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Một  sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay.  Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của  vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng  chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng  không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba  Huy hoảng hốt biết mình đã bay lọt sang tận nước Xiêm. Trần Trinh Huy bị  Nhà nước Xiêm bắt giữ và phạt 200 ngàn giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải  chở một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Xiêm để chuộc quí tử về. Ông  là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân.[4]</p>
<p style="text-align: justify;">Ba  Huy sinh hoạt cực kỳ sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston,  thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu  Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn  là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít  khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự của Trần gia mà vào một trong  những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo  mát Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc  còn lại chở những món đồ như mũ, cây &#8220;can&#8221;&#8230;<br />
Công tử Bạc Liêu  là một người luôn xê dịch và rất ham vui, những cuộc ăn chơi nổ trời  diễn ra, Trần Trinh Huy lặn ngụp trong những bàn tiệc với rượu sâm banh.  Mỗi chủ nhật ông đều đi nghỉ cuối tuần ở Vũng Tàu, Đà Lạt hoặc về Cần  Thơ. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông đánh một cây bài  30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ[5], lương của Thống đốc  Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Hắc công tử và Bạch công tử </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Bạch công tử</strong><br />
<a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/large_cong-tu-bac-lieu-thuong-hieu-an-khach1242229694.jpg"><img class="alignright size-medium wp-image-1840" style="margin-left: 9px; margin-right: 9px; border: 1px solid black;" title="large_cong-tu-bac-lieu-thuong-hieu-an-khach1242229694" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/large_cong-tu-bac-lieu-thuong-hieu-an-khach1242229694-245x300.jpg" alt="" width="245" height="300" /></a>Bạch  công tử là Lê Công Phước hay còn gọi là George Phước, con trai của Đốc  phủ Lê Công Sủng, người ở làng Điều Hòa, tỉnh Mỹ Tho. Phước cũng là một  tay chơi nổi tiếng khi đó, da trắng nên được gọi Bạch công tử để phân  biệt với Ba Huy. George Phước say mê cải lương, từng qua Pháp học về sân  khấu. Về nước Phước cùng một người khác bỏ tiền lập hai gánh hát Phước  Chương và Huỳnh Kỳ nổi tiếng với cô đào chánh đệ nhất tài sắc đương thời  là cô Bảy Phùng Há và một cô đào tài sắc khác là Năm Phỉ. Cùng nổi  tiếng ăn chơi, Bạch công tử và Hắc công tử trở thành kỳ phùng địch thủ.</p>
<p>&#8220;Đang  lúc cô Ba Trà, một người con gái có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch  công tử, thua bài sạch túi, ông trưởng giả lớn tuổi chưa kịp cung phụng  tiền bạc tiếp để vừa lòng mỹ nhân, Bạch Công tử lù lù lái xe lại nhà cô  Ba Trà, rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ bạc.<br />
Hai người  vừa xuống đến quán Bungalows ở Cần Thơ, máy xe chưa nguội thì chiếc  Sport tám máy của Hắc Công Tử cũng vừa tới, thắng cái két. Cả hai lâm  vào cảnh khó xử, việc chiếm được mỹ nhân chỉ còn cậy vào tài chinh phục  của bản thân mình. Cả ba cùng đưa nhau vào khách sạn. Bạch Công tử lột  chiếc cà rá hột xoàn trị giá 3.000 đồng vào thời đó để trên bàn trước  khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đeo thử nó trên tay, Bạch  Công tử liền lên tiếng tặng luôn. Sau đó Hắc Công tử đã mua tặng cô Ba  Trà một chiếc nhẫn trị giá gấp đôi&#8230;&#8221;<br />
Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ cùng  cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu biểu diễn, Bạch công tử mời Hắc công tử đến  xem. Đang xem, Bạch công tử móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công  , Bạch công tử cuối xuống tìm kiếm. Hắc công tử thấy vậy hỏi:</p>
<p>- Chú kiếm gì vậy?</p>
<p>- Tôi kiếm tờ con công.</p>
<p>Hắc công tử mỉm cười nói:</p>
<p>- Để tôi đốt đuốc cho chú kiếm.</p>
<p>Nói  rồi Hắc công tử móc tờ giấy bạc bộ lư châm lửa soi cho Bạch công tử  kiếm. Bị một vố quá nặng, vãn tuồng, Bạch công tử mới nói:</p>
<p>- Toa  chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người  ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? &#8211; Hắc Công  Tử đáp &#8220;Chú cũng vậy nữa kìa! Ấy dà, Chú muốn chơi hả? Được,vậy để tôi  chơi cho chú chết luôn!&#8221;<br />
Tối hôm sau, Hắc công tử cho trải thảm  đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc  soi đường, nghinh đón phái đoàn của Bạch công tử. Cuộc thi được tổ chức  ở đại sảnh nhà lớn của Trần gia. Lửa của tiền giấy thì rất kém nhiệt,  chỉ cháy nhỏ, vì thế họ nấu chè rất lâu trong sự căng thẳng của rất  nhiều người chứng kiến. Trán ai cũng rịn mồ hôi hột, nhất là những người  trong gia đình họ Trần. Cuối cùng, nồi chè Bạch công tử sôi trước, Hắc  công tử đành thua cuộc. Nhưng Ba Huy tuyên bố rằng ông ta thua trong  danh dự. (ST)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2011/03/giai-tho%e1%ba%a1i-v%e1%bb%81-cong-t%e1%bb%ad-b%e1%ba%a1c-lieu-x%c6%b0a-va-nay/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Khăn rằn &#8211; nét duyên người Nam Bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2011/03/khan-r%e1%ba%b1n-net-duyen-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2011/03/khan-r%e1%ba%b1n-net-duyen-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 04 Mar 2011 15:28:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Khăn rằn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=1712</guid>
		<description><![CDATA[Khăn rằn là hình ảnh quen thuộc của người đồng bằng sông Cửu Long và bộ phận người Khmer. Không rõ nó ra đời từ bao giờ, nhưng nó đã đồng hành cùng những con người thời khai hoang mở cõi phía Nam của Việt Nam. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/images1536617_1.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-1713" style="border: 1px solid black; margin-left: 9px; margin-right: 9px;" title="images1536617_1" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/images1536617_1-203x300.jpg" alt="" width="203" height="300" /></a>Khăn rằn là hình ảnh quen thuộc của người đồng bằng sông Cửu Long và bộ phận người Khmer. Không rõ nó ra đời từ bao giờ, nhưng nó đã đồng hành cùng những con người thời khai hoang mở cõi phía Nam của Việt Nam. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành hình ảnh gần gũi với mọi người, như là một biểu tượng cho người phụ nữ đồng bằng sông Cửu Long cần cù, đáng yêu. Hình ảnh chiếc khăn rằn còn xuất hiện trong hình ảnh quân du kích Việt Nam.</p>
<h2>Lịch sử</h2>
<p style="text-align: justify;">Chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer và trong quá trình cộng cư  của các dân tộc trên vùng đất đồng bằng sông Cửu Long, nó đã được  chuyển thành thứ trang phục đặc trưng của nhiều dân tộc khác. Chiếc khăn  rằn thường có hai màu đen và trắng hoặc nâu và trắng. Hai màu này đan  chéo nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có lẽ các  lằn ngang dọc ấy là gốc gác của tên gọi khăn rằn. Chiếc khăn rằn có  chiều dài khoảng 1,2m, rộng chừng 40-50cm, không cầu kỳ, sặc sỡ mà bình  dị, đơn giản.</p>
<p style="text-align: justify;"><img class="size-medium wp-image-1714 alignright" style="margin-left: 9px; margin-right: 9px; border: 1px solid black;" title="khan ran" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2011/03/khan-ran-225x300.jpg" alt="" width="225" height="300" />Trước khi có sự du nhập của các loại trang phục từ phương Tây thì chiếc khăn rằn đóng vai trò chủ chốt trong lối ăn mặc của những  người dân xứ này. Không chỉ người lao động lam lũ, mà cả những điền chủ,  người giàu có cũng sử dụng nó. Không chỉ có phụ nữ, mà nam giới cũng sử  dụng loại khăn này. Phụ nữ vắt gọn khăn trên đầu, còn đàn ông cột ngang  trán, chừa hai đuôi khăn nhô lên đầu, nút khăn nằm ở phía trước. Khăn  cũng được quàng trên cổ, một đầu thả trước ngực, một đầu thả sau lưng.  Đôi khi hai đầu được buông xuôi xuống phía trước, đi với bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc trưng rất duyên của cư dân Nam bộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhỏ bé, thường không tách rời và tạo thêm vẻ duyên dáng cho  trang phục truyền thống của các dân tộc, đó là những chiếc khăn quàng  cổ. Với người dân vùng sông nước Cửu Long, chiếc khăn rằn trở thành vật  dụng không thể thiếu trong đời sống lao động của họ .</p>
<h2>Sử dụng</h2>
<ul>
<li style="text-align: justify;">Nam giới khi làm việc đồng thường lấy khăn buộc ngang trán, lật ngửa  hai đầu khăn đưa lên trời để ngăn mồ hôi không chảy xuống mặt mà cản  trở công việc. Đến khi mệt, họ bước lên bờ đê, tìm gốc cây tựa lưng nghỉ  mệt. Lúc này khăn mới được lột xuống để lau mồ hôi ở trán, ở mặt, ở  cổ&#8230;</li>
<li style="text-align: justify;">Các cô gái trong khi cày cấy, hay gánh mạ trên đồng cũng thường quấn khăn ở cổ, nếu đổ mồ hôi thì sẵn có khăn lau ngay.</li>
</ul>
<p>Riêng trong các ngày lễ thì trang phục của người dân Nam bộ tề chỉnh,  ngay ngắn, lịch sự hơn. Bộ trang phục được xem là lễ phục phổ biến ngày  xưa là bộ khăn đóng áo dài may bằng loại vải đắt tiền (thường thì áo  dài bằng xuyến hay lương đen, còn quần thì màu trắng bằng lụa hay vải).  Bộ trang phục này thường được mặc khi dự lễ cúng đình hay đám cưới, các  dịp hiếu hỷ&#8230;</p>
<ul>
<li>Các ông lão sử dụng chiếc khăn rằn như là chiếc khăn không thể thiếu của mình trong mọi việc.</li>
<li style="text-align: justify;">Trang phục lễ tang thường có màu trắng làm màu chủ đạo, vì đó là màu  tang tóc. Vải để may đồ tang là loại vải thô, thưa mà dân gian thường  gọi là vải tám. Vải này rất rẻ tiền, không bền, không đẹp, cốt để biểu  thị tình cảm của người đang sống đối với người đã khuất với ý nghĩa cha  mẹ hoặc ông bà mất rồi, con cái quá đau buồn không thiết đến việc ăn mặc  nữa. Áo tang phải được may trở sống ra ngoài. Con là nam thì đầu đội mũ  rơm, nữ thì đội mấn, những người họ hàng thân thích thì chỉ quấn vòng  khăn tang ngang đầu.</li>
</ul>
<p style="text-align: justify;">Trước khi có sự du nhập của các loại trang phục từ phương Tây,  khăn rằn đóng vai trò chủ chốt trong lối ăn mặc của những người dân xứ  này. Không chỉ người lao động lam lũ, mà cả những điền chủ, người giàu  có cũng sử dụng nó. hụ nữ vắt gọn khăn trên đầu, đàn ông cột ngang trán,  hai đuôi khăn nhô lên, nút khăn nằm ở phía trước. Khăn cũng được quàng  trên cổ, một đầu thả trước ngực, đầu kia thả sau lưng. Đôi khi hai đầu  được buông xuống phía trước, đi với bộ quần áo bà ba làm nên nét đặc  trưng rất duyên của cư dân Nam bộ. Chiếc khăn rằn còn dùng để che  nắng, thấm dòng mồ hôi, chắn ngọn gió lốc, lau khô dòng nước mắt hay  giấu đi một nụ cười e ấp của người đất phương Nam.</p>
<p style="text-align: right;">(TH)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2011/03/khan-r%e1%ba%b1n-net-duyen-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những nhân vật &#8220;Sài Gòn đệ nhất &#8211; &#8221;  “Nhất Sĩ” trong tứ đại phú</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/08/nh%e1%bb%afng-nhan-v%e1%ba%adt-sai-gon-d%e1%bb%87-nh%e1%ba%a5t-%e2%80%9cnh%e1%ba%a5t-si%e2%80%9d-trong-t%e1%bb%a9-d%e1%ba%a1i-phu/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/08/nh%e1%bb%afng-nhan-v%e1%ba%adt-sai-gon-d%e1%bb%87-nh%e1%ba%a5t-%e2%80%9cnh%e1%ba%a5t-si%e2%80%9d-trong-t%e1%bb%a9-d%e1%ba%a1i-phu/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 22 Aug 2010 04:27:02 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa Sài Gòn]]></category>
		<category><![CDATA[Nhất Sĩ]]></category>
		<category><![CDATA[Sài Gòn đệ nhất]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=709</guid>
		<description><![CDATA[Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, ở Sài Gòn nổi lên bốn nhà cự phú, giàu có nức tiếng. Họ không chỉ giàu nhất Sài Gòn mà còn là giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và cả giàu nhất Đông Dương. Bởi thế mới có câu Nhất Sĩ, nhì Phương, tam [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="PublishingImage_Container" style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #a9a9a9;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/08/dfgrgdsgdsgsdsgp435456.jpg"><img class="size-full wp-image-711 alignleft" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="dfgrgdsgdsgsdsgp435456" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/08/dfgrgdsgdsgsdsgp435456.jpg" alt="" width="150" height="212" /></a><span style="color: #000000;">Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ  20, ở Sài Gòn nổi lên bốn nhà cự phú, giàu có nức tiếng. Họ không chỉ  giàu nhất Sài Gòn mà còn là giàu nhất Nam Kỳ lục tỉnh và cả giàu nhất  Đông Dương. Bởi thế mới có câu <em>Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xương, tứ Định </em>(*) truyền tụng cho đến mãi ngày nay. Trước hết, chúng ta hãy &#8220;tiếp cận&#8221; với nhân vật được xếp hạng &#8220;số một&#8221;: Huyện Sĩ. </span></span></strong></div>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, nếu có dịp đi qua góc đường Tôn Thất Tùng &#8211; Nguyễn  Trãi (Q.1, TP.HCM), bạn sẽ thấy tọa lạc ở đây là một nhà thờ uy nghiêm,  cổ kính. Đó là nhà thờ giáo họ Chợ Đũi, tuy nhiên dân gian vẫn quen gọi  là Nhà thờ Huyện Sĩ nhằm tưởng nhớ người đã bỏ 1/7 gia sản của mình ra  để xây dựng và cung hiến, dần dần tên gọi &#8220;Nhà thờ Huyện Sĩ&#8221; trở thành  tên gọi chính thức của ngôi thánh đường này.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày nay, nếu có dịp đi qua góc đường Tôn Thất Tùng &#8211; Nguyễn Trãi  (Q.1, TP.HCM), bạn sẽ thấy tọa lạc ở đây là một nhà thờ uy nghiêm, cổ  kính. Đó là nhà thờ giáo họ Chợ Đũi, tuy nhiên dân gian vẫn quen gọi là  Nhà thờ Huyện Sĩ nhằm tưởng nhớ người đã bỏ 1/7 gia sản của mình ra để  xây dựng và cung hiến, dần dần tên gọi &#8220;Nhà thờ Huyện Sĩ&#8221; trở thành tên  gọi chính thức của ngôi thánh đường này.</p>
<p style="text-align: justify;">Tiểu sử của Huyện Sĩ đến nay vẫn còn khá giản lược nhưng di sản và  tiếng tăm của một dòng họ &#8220;trâm anh thế phiệt&#8221; đến nay vẫn lưu truyền.</p>
<p style="text-align: justify;">Huyện Sĩ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900), thuở nhỏ có tên là Sĩ.  Ông sinh tại Cầu Kho (Sài Gòn) nhưng quê quán ở Tân An (Long An) trong  một gia đình theo đạo Công giáo, tên thánh là Philipphê. Do vậy, ông  được các tu sĩ người Pháp đưa sang du học ở Pénang (Malaysia). Ở đây, Sĩ  được học các ngôn ngữ: La Tinh, Pháp, Hán và quốc ngữ (chữ Việt mới sơ  khai), rồi do trùng tên với một người thầy dạy nên Sĩ đổi tên thành Lê  Phát Đạt. Khi về nước, Lê Phát Đạt được Chính phủ Nam Kỳ bổ dụng làm  thông ngôn, rồi làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ (từ năm 1880). Tuy  nhiên, dù đã đổi tên nhưng bà con lối xóm vẫn gọi ông bằng cái tên cúng  cơm: Sĩ.</p>
<table style="text-align: justify;">
<tbody>
<tr>
<td><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/08/Namphuonghoanghau1.jpg"></a></p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/08/Namphuonghoanghau1.jpg"><img class="size-full wp-image-713 alignright" title="Namphuonghoanghau" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/08/Namphuonghoanghau1.jpg" alt="" width="180" height="379" /></a></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td><span style="color: #808080;">Nam Phương hoàng hậu, cháu ngoại của Huyện Sĩ &#8211; Ảnh: tư liệu</span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;">Theo học giả Vương Hồng Sển trong <em>Sài Gòn năm xưa </em>(NXB TP.HCM, 1991) thì cái sự &#8220;lên hương&#8221; của Lê Phát Đạt chẳng qua là&#8230; ăn may:<em> &#8220;Tương truyền buổi đầu, Tây mới qua, dân cư tản mác. Pháp phát mãi  ruộng đất vô thừa nhận, giá bán rẻ mạt mà vẫn không có người đầu giá </em>(chú  thích: &#8220;Hồi Tây qua, nghe nói lại, những chủ cũ đều đồng hè bỏ đất,  không nhìn nhận, vì nhận e nỗi quan và triều đình Huế khép tội theo  Pháp. Vả lại, cũng ước ao một ngày kia Tây bại trận rút lui. Chừng đó ai  về chỗ nấy, hốp tốp làm chi cho mang tội&#8230; Không dè bởi đất không ai  nhìn, nên Pháp lập Hội đồng Thành phố, Ủy ban Điền thổ rồi đưa nhau đi  khám xét từng vùng. Đến chỗ nào địa thế tốt, thì những ủy viên bản xứ  nhận là của mình: &#8220;Ùy&#8221; (Oui) một tiếng! Đến chỗ nào nẻ địa thì lắc đầu,  tiếp theo nói &#8220;Nông&#8221; (Non) cũng một tiếng! Chung quy chỉ học hai tiếng  &#8220;Ùy&#8221;, &#8220;Nông&#8221; mà có ông lập nghiệp truyền tử lưu tôn. Trận bão năm Giáp  Thìn (1904), đất Gò Công bỏ hoang vô số kể, ai đủ can đảm chịu ra mặt  đóng thuế thì làm chủ chính thức, mà có ai thèm đâu&#8230;&#8221;). Thế rồi, nài  ép ông, ông bất đắc dĩ phải chạy bạc mua liều. Nào ngờ vận đỏ, ruộng  trúng mùa liên tiếp mấy năm liền. Ông trở nên giàu hụ, trong nhà có treo  câu đối dạy đời: &#8220;Cần dữ kiệm, trị gia thượng sách/Nhẫn nhi hòa, xử thế  lương đồ&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;">Tương truyền ngôi nhà lầu đồ sộ của Huyện Sĩ tại Tân An (nằm gần ngã  ba sông Tân An và Bảo Định) được cất trên thế đất hàm rồng nên gia đình  ông trở nên giàu có, danh vọng bậc nhất thời đó. Nhiều tài liệu nói rằng  khi đang xây nhà thờ Chợ Đũi (tức nhà thờ Huyện Sĩ), theo yêu cầu của  giáo dân vùng Bảy Hiền, người ta đã cắt bớt một gian giữa của nhà thờ  này để lấy tiền đó xây nhà thờ Chí Hòa; con trai của Huyện Sĩ là kỹ sư  Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây (góc Quang  Trung &#8211; Lê Văn Thọ, Gò Vấp). Tất cả những ngôi nhà thờ này đều xây trên  đất của Huyện Sĩ. Ngày nay, nếu đi bằng xe máy từ nhà thờ Huyện Sĩ đến  nhà thờ Hạnh Thông Tây phải mất gần một tiếng, đủ thấy &#8220;lãnh thổ&#8221; của  Huyện Sĩ mênh mông chừng nào.</p>
<p style="text-align: justify;">Không chỉ có thế, các con của Huyện Sĩ như bà Lê Thị Bính (mẹ của  Nam Phương hoàng hậu), Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân&#8230; đều  là những đại điền chủ có rất nhiều đất đai ở Tân An, Đức Hòa, Đức Huệ và  Đồng Tháp Mười&#8230; Riêng trưởng nam của Huyện Sĩ là Lê Phát An được vua  Bảo Đại phong tước An Định Vương, là người duy nhất trong lịch sử Nam Kỳ  thuộc hàng dân dã, không là &#8220;hoàng thân, quốc thích&#8221; được lên ngôi vị  cao quý nhất của triều đình (vương, công, hầu, bá, tử, nam &#8211; NV). Năm  1934, nhân dịp gả cô cháu gái về Huế làm Hoàng hậu, Lê Phát An đã tặng  cho Nguyễn Hữu Thị Lan 1 triệu đồng tiền mặt để làm của hồi môn (1 triệu  đồng lúc bấy giờ giá vàng khoảng 50 đồng/lượng, vị chi món quà này  tương đương 20.000 lượng vàng &#8211; NV). Gia đình Nguyễn Hữu Hào (cha của  Nam Phương hoàng hậu, rể của Huyện Sĩ) giàu hơn Bảo Đại. Trong đời làm  vua của mình, vị hoàng đế thích ăn chơi Bảo Đại xài tiền của vợ nhiều  hơn của hoàng gia.</p>
<p style="text-align: justify;">Huyện Sĩ mất năm 1900, hai mươi năm sau vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài  cũng tạ thế. Người ta đưa xác hai ông bà vào chôn ở gian sau cung thánh  nhà thờ Huyện Sĩ như một nhà mồ&#8230; Người viết đã may mắn quen biết với  một người là thành viên của Hội đồng giáo xứ nhà thờ Huyện Sĩ nên đã nhờ  ông dắt vào tận nơi (đây là khu vực đặc biệt, không phải ai muốn vào  cũng được). Phía bên trái là tượng bán thân bằng thạch cao của ông Huyện  Sĩ, kế đến là phần mộ bằng đá cẩm thạch được trang trí hoa văn (nghe  nói là chôn nổi). Trên mộ là tượng toàn thân của ông Huyện Sĩ (cũng bằng  đá cẩm thạch) nằm kê đầu lên hai chiếc gối, đầu chít khăn đóng quay mặt  về phía cung thánh, mình mặc áo dài gấm có hoa văn rất tinh xảo, hai  tay đan vào nhau trước ngực, chân đi giày. Phía bên phải, ở những vị trí  đối xứng là tượng bán thân của vợ ông là bà Huỳnh Thị Tài (1845-1920),  rồi đến mộ và tượng toàn thân của bà: búi tóc, cũng nằm kê đầu lên hai  chiếc gối, hai tay nắm trước ngực, mặc áo dài gấm, chân mang hài. Phía  trong cùng còn có tượng bán thân của con trai và con dâu của ông bà là  Lê Phát Thanh (bên trái) và Đỗ Thị Thao (bên phải)&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Đứng bên phần mộ của những con người đã từng có một thời giàu có và  tiếng tăm nhất nước này, mới thấy kiếp người phù sinh. Tuy nhiên, phải  thừa nhận phần mộ có tạc tượng của ông bà Huyện Sĩ xứng đáng là công  trình nghệ thuật tuyệt tác.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Hà Đình Nguyên</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em>(*) Về nhân vật được xếp thứ tư, có nhiều dị bản, ngoài &#8220;tứ Định&#8221;,  còn có &#8220;tứ Hỏa&#8221; (chú Hỏa &#8211; Hui Bon Hoa), &#8220;tứ Bưởi&#8221; (Bạch Thái Bưởi), &#8220;tứ  Trạch&#8221; (Trần Trinh Trạch cha của công tử Bạc Liêu)&#8230;</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/08/nh%e1%bb%afng-nhan-v%e1%ba%adt-sai-gon-d%e1%bb%87-nh%e1%ba%a5t-%e2%80%9cnh%e1%ba%a5t-si%e2%80%9d-trong-t%e1%bb%a9-d%e1%ba%a1i-phu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thân thương tà áo bà ba</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/than-th%c6%b0%c6%a1ng-ta-ao-ba-ba/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/than-th%c6%b0%c6%a1ng-ta-ao-ba-ba/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:50:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[áo bà ba]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=276</guid>
		<description><![CDATA[&#8220;Chiếc áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ tới mong manh&#8230;&#8221;. Chiếc áo bà ba đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho biết bao lời ca, bài hát trữ tình xưa nay. Cùng với chiếc nón lá Việt Nam, cái khăn rằn quấn cổ, chiếc áo [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;">&#8220;Chiếc                  áo bà ba trên dòng sông thăm thẳm<br />
Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ tới mong manh&#8230;&#8221;.</p>
<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/dinh.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-278" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="dinh" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/dinh-300x216.jpg" alt="" width="300" height="216" /></a>Chiếc áo bà ba đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận  cho biết                      bao lời ca, bài hát trữ tình xưa nay. Cùng với chiếc  nón lá                      Việt Nam, cái khăn rằn quấn cổ, chiếc áo bà ba đã đi  vào văn                      học dân gian một cách gần gũi, thân thương, là niềm  tự hào                      của dân tộc ta.</p>
<p>Tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội còn lưu giữ nhiều kiểu  áo của                      dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số Việt Nam. Trong  đó, có                      chiếc áo bà ba mang dáng vẻ đặc trưng của nền văn  hiến:</p>
<p>&#8220;Bà ba cái ngắn cái dài<br />
Sao anh không bận &#8211; bận hoài bành tô&#8221;.</p>
<p>Chiếc áo bà ba là một biểu tượng khá sinh động đã  gắn liền                      với dân tộc Việt Nam. Từ thời nhà Lê, áo bà ba đã có  ở Nam                      Bộ, áo bà ba cổ tròn năm khuy, chính giữa cài cúc  ngay ngắn.                      Áo bà ba nữ thì đơm cúc bấm, có yếm tâm (tức lưỡi gà  giáp                      hai thân trước) khỏi làm khuy. Áo gồm hai thân  trước, một                      thân sau và hai ống tay dài ôm sát thân người thon  thả, trông                      dáng vẻ thuỳ mị, dễ thương&#8230;</p>
<p>Cũng có giả thiết cho rằng: áo bà ba có vào nửa đầu  thế kỷ                      19 do kiểu áo Pénang của Malaixia được nhà bác học  Trương                      Vĩnh Ký cách tân cho phù hợp với tính cách giản dị  của dân                      ta. Cổ áo đa phần là cổ tròn, một ít thiết kế theo  kiểu hình                      trái tim (cổ lá trầu) hoặc cổ vuông tuỳ sở thích mỗi  người.                      Nách áo có cái ngắn, có cái dài tuỳ tuổi tác ăn bận  cho phù                      hợp thời trang. Hai túi áo to hoặc nhỏ tuỳ ý, thông  thường                      áo bà ba nam hai túi to, áo nữ hai túi nhỏ, song  phải cân                      đối với thân áo cho vừa vặn kiểu dáng không chênh  lệch và                      phải tương xứng với thân hình.</p>
<p>Đặc biệt, du khách có dịp về miền châu thổ đồng  bằng sông                      Cửu Long sẽ được ngắm nhìn hình ảnh các cô gái Nam  Bộ hiền                      hoà trong chiếc áo bà ba mộc mạc, đầu đội nón lá  nghiêng che,                      cổ quấn khăn rằn, rõ là dáng đứng Hậu Giang:</p>
</div>
<div>&#8230; Hậu Giang ơi, em vẫn đẹp ngàn  đời<br />
Chiếc áo màu xanh len từng con sóng bạc<br />
Lóng lánh mái chèo của đồng ánh dương soi&#8230;<br />
Về bến Ninh Kiều thấy nàng đợi người yêu<br />
Em xinh tươi trong chiếc áo bà ba&#8230;</div>
<div>
<p>Càng về sau, chiếc áo bà ba càng được cải tiến dần,  tăng                      vẻ thanh thoát, lả lướt, cao sang, áo bà ba phụ nữ  được chế                      tác biến tấu thành tay “ráp lăng”, nửa thân trên bóp  lại có                      eo, thân sau nhấn &#8220;pen&#8221;, nửa thân dưới bùng ra trông                       thân hình tròn trịa.</p>
<p>Áo bà ba có mặt khắp nơi trong sinh hoạt đời  thường, từ buổi                      chợ quê đến những phố thị đông đúc, đâu đâu cũng  thấp thoáng                      bóng hình chiếc áo bà ba, tăng vẻ quyến rũ mà chân  thật, dịu                      dàng của dân tộc. Trong cuộc sống, từ lao động sản  xuất đến                      làm vườn, chèo ghe&#8230; áo bà ba rất thích hợp và  thuận tiện.</p>
<p>Một đặc điểm độc đáo nữa là áo bà ba không kén chọn  hàng                      vải nội hay vải ngoại, thông thường người nam từ bao  đời nay                      mặc bà ba trắng hoặc bà ba đen; còn người nữ mặc đủ  màu sắc:                      xanh, đỏ, tím, vàng, hoa cà, vàng mơ, hồng nhạt&#8230;  tuỳ nước                      da và lứa tuổi chọn lọc cho thích hợp.</p>
<p>Trải qua nhiều thời đại, chiếc áo bà ba vẫn còn  thông dụng                      đối với mọi người, nhất là tầng lớp trung niên trở  lên. Đây                      chính là nét đẹp văn hóa ngàn đời gây ấn tượng khó  quên của                      dân tộc Việt Nam, một đất nước có truyền thống văn  hóa, đầy                      tính sáng tạo, đổi mới để tồn tại vượt thời gian và  không                      gian&#8230; Thật dịu dàng và độc đáo với chiếc áo bà ba.</p>
<p>Cho dù đã có được nhiều cơ duyên với bao lễ hội,  bao cuộc                      biểu diễn thời trang trong một không gian đầy sắc  màu huyền                      ảo và âm thanh hiện đại những chiếc áo dài biến tấu  phát phơ,                      làm loá mắt dưới ánh đèn màu, nhưng tôi vẫn thấy một  tà áo                      rất đỗi thân thương như là khép nép ở một góc làng  quê nào                      đó trên mảnh đất quê hương &#8211; một dấu lặng khiêm  nhường gigữa                      giàn đại hoà tấu ồn ã của cuộc sống hiện đại. Phải  chăng chiếc                      áo bà bà khiêm nhường đến thế lại có thể nào trở nên  thua                      chị kém em trong cơn lốc của luồng gió thời trang  bốn phương                      thổi về.</p>
<p>Giữa quê hương miền Nam đi đi về về hai mùa mưa  nắng, không                      biết tự bao giờ chiếc áo bà ba hiện hữu, đồng hành  với người                      phụ nữ Nam Bộ như một thứ y phục đặc trưng cho một  chất thuần                      hậu, dịu dàng của họ. Dường như khi nhìn những đườnc  nét mộc                      mạc của chiếc áo bc ba, ta cảm nhận đó là một thứ  ngôn ngữ                      im lặng ký thác một phẩm hạnh, một giá trị vĩnh cửu  của người                      phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ Nam bộ nói  riêng.</p>
<p>Tôi &#8211; một người sinh ra và lớn lên trong một thời  khắc mà                      thời trang mặc nhiên đồng nghĩa với văn hóa, đơn  giản hơn                      nữa là năng lực thẩm mỹ của nhiều giai tầng trong xã  hội.                      Tôi đã từng được thưởng lãm các phục trang của nhiều  hãng                      thời trang lừng danh thế giới như Piere Cardin, CK,  Versage&#8230;,                      nhưng điều làm tôi thấy lạ là giữa bao nhiêu sắc màu  biến                      ảo của phục trang thời thượng thì chiếc áo bà ba vẫn  dung                      dị trong màu đen chàm cố hữu mà hàng ngàn năm nay  vẫn thế.                      Nó gợi nhớ màu đen sẫm của đất, giàu lượng để nuôi  dưỡng,                      tiếp năng lượng cho bao mầm xanh trên mảnh đất yêu  dất này.</p>
<p>Quên sao đựợc hình ảnh chiếc khăn rằn, áo bà ba như  một biểu                      trưng của &#8220;miền Nam thành đồng&#8221; trong những ngày                      chống Mỹ cứu nước. Chiếc áo bè ba theo chị em từ  vùng căn                      cứ đến cả trong nhà tù của kẻ thù ; có ai biết được  chiếc                      áo bà ba mỏng manh là vậy lại có mặt trong những giờ  phút                      khắc nghiệt nhất làm nhụt chí kẻ thù, tăng thêm chí  khí của                      đội quân tóc dài của những má, những chị, những em  trong những                      ngày đồng.</p>
<p>Hòa bình về lại, giữa tứ bề của một sinh quyển hiền  hòa vốn                      có, chiếc áo bà ba lại đi về giữa những tiết nhịp  của thường                      nhật. Áo thấp thoáng trên những nhịp cầu tre lắt  lẻo, mềm                      mại trên những chuyến đò ngang trên xuồng ba lá và  bay bổng,                      lãng mạn quyện hòa trong những điệu lý con sáo, lý  cây bông&#8230;                      ngọt ngào đến nao lòng những người đi xa, và cũng  dệt nên                      những sợi tơ lòng để kết nối đôi lòng trai gái, nối  quá khứ                      với hiện tại&#8230;</p>
<p>Khăn rằn &#8211; nón lá &#8211; áo bà ba đã trở nên một liên  kết &#8220;tam                      vị nhất thể&#8221; tạo dựng một biểu trưng hoàn mỹ nhất  cho                      vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết của người phụ nữ Việt  Nam. Có những                      chiếc áo ta mặc chỉ có một lần rồi xếp vào ngăn tủ,  ít khi                      lấy ra mặc lại. Chiếc áo bà ba thì khác hẳn; chiếc  áo như                      một sự &#8220;phong vận&#8221; vào mỗi một phận người, chiếc                      áo đó ủ chín niềm tin, vỗ về bao đoái vọng và chắp  cánh cho                      bao giấc mơ có thực giữa vòng tay bao dung của cuộc  đời. Có                      biết bao tà áo dài dười bàn tay tài hoa của người  nghệ sĩ                      đã biến tấu để không lỡ nhịp với tiết điệu của cuộc  sống hiện                      đại, có rất nhiều tà áo bay đi rất nhiều &#8220;hương đồng                       gió nội&#8221;. Xin hãy nâng niu giữ mãi sắc màu dung dị,  kín                      đáo thuở ban đầu ấy của chiếc áo bà ba, bởi ta vẫn  biết ở                      giữa cánh đồng thời gian rộng lớn, mẹ và em vẫn mặc  chiếc                      áo ấy; ẩn hiện sau lũy tre làng, trĩu cong bờ vai  giữa bao                      lo toan của dòng đời để làm nên hạt lúa củ khoai cho  ta lớn                      khôn mang khí phách Phù Ðổng vươn mình tới bao chân  trời mới                      của tương lai&#8230;</p>
<p><span style="font-size: xx-small;">(Theo Tạp chí Nông  thôn mới)</span></p>
</div>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/than-th%c6%b0%c6%a1ng-ta-ao-ba-ba/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bác Ba Phi &#8211; Một hiện tượng văn học truyền khẩu ở vùng U Minh</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/bac-ba-phi-m%e1%bb%99t-hi%e1%bb%87n-t%c6%b0%e1%bb%a3ng-van-h%e1%bb%8dc-truy%e1%bb%81n-kh%e1%ba%a9u-%e1%bb%9f-vung-u-minh/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/bac-ba-phi-m%e1%bb%99t-hi%e1%bb%87n-t%c6%b0%e1%bb%a3ng-van-h%e1%bb%8dc-truy%e1%bb%81n-kh%e1%ba%a9u-%e1%bb%9f-vung-u-minh/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 07:00:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Ba Phi]]></category>
		<category><![CDATA[Bác Ba Phi]]></category>
		<category><![CDATA[U Minh]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=240</guid>
		<description><![CDATA[Bác Ba Phi là một nhân vật trong văn học dân gian. Ông là nhân vật chính trong những câu chuyện kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm máy bay rơi, leo cây ớt té gãy chân&#8230;) và được trình bày [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/bac-ba-phi.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-241" style="margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="bac-ba-phi" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/bac-ba-phi-229x300.jpg" alt="" width="229" height="300" /></a>Bác Ba Phi</strong> là một nhân vật trong văn học dân  gian. Ông là nhân vật chính trong những câu chuyện kể về cuộc sống sinh hoạt thường ngày nhưng được cường điệu quá đáng (như rắn tát cá, chọi đá làm  máy bay rơi, leo cây ớt té gãy chân&#8230;) và được trình bày một cách tự  nhiên khiến người nghe hoàn toàn bất ngờ và bật cười. Ông là nhân vật  cận đại nhất trong lịch sử kho tàng truyện trạng (nói dóc) của văn học Việt Nam.</p>
<p>Nhân vật nguyên mẫu của Bác Ba Phi là nghệ nhân <strong>Nguyễn Long Phi</strong> (1884-1964). Ông vốn  là một nông dân tại huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau,  vốn có khiếu kể chuyện rất phong phú và đặc sắc, được nhiều người ưa  thích.</p>
<p>Ông sinh năm 1884 tại tỉnh Đồng Tháp, do gia đình quá nghèo nên từ nhỏ ông  phải đi cày thuê để nuôi tám người em nhỏ. Khi 15 tuổi, mẹ ông qua đời,  ông trở thành một lao động chính trong gia đình. Tuy cuộc sống cơ cực,  ban ngày phải đi khẩn hoang, cày cuốc ruộng vườn, nhưng đến ban đêm, ông  thường tham gia tụ họp đờn ca, và được bà con trong xóm mê tiếng ca và  nể trọng tính tình vui vẻ, bộc trực, khẳng khái, đặc biệt là những câu  chuyện kể và cách kể truyện lôi cuốn người nghe của ông.</p>
<p style="text-align: justify;">Vốn làm tá điền cho Hương quản Tế &#8211; một địa chủ giàu có vùng Bảy Ghe,  ông được Hương quản Tế hứa gả cô con gái là Ba Lữ với điều kiện phải  làm công trong ba năm. Nhờ sức chịu thương chịu khó, nên sau ba năm thì  ông cưới được vợ. Cũng do điều này mà Hương quản Tế rất yêu thương người  con rể này và đã cắt chia cho vợ chồng Ba Phi khá nhiều đất. Cộng với  sự cần cù sẵn có, ông đã ra sức khai khẩn phần đất được chia thành đồng  ruộng cò bay thẳng cánh.</p>
<p style="text-align: justify;">Hai người lấy nhau một thời gian mà không có con, vì vậy bà Ba Lữ đã  đứng ra cưới vợ hai cho chồng. Bà này sinh được một người con trai là  Nguyễn Tứ Hải. Không rõ vì lý do gì mà khi Nguyễn Tứ Hải mới ba tuổi, bà  đã gửi con cho chồng rồi về quê ở Mỹ Tho cho đến lúc qua đời. Ông  Nguyễn Tứ Hải về sau lập gia đình với bà Nguyễn Thị Anh, sinh hạ một  người con trai – cháu đích tôn của bác Ba Phi – tên là Nguyễn Quốc Trị.  Trong những câu chuyện của bác Ba Phi thì đây chính là nhân vật <strong>thằng  Đậu</strong> nổi tiếng. Và cũng có thành ngữ &#8220;Tệ như vợ (thằng) Đậu&#8221; được  dùng để chỉ những người vụng về.</p>
<p>Về sau bác Ba Phi cưới thêm vợ ba. Bà tên Chăm, là người dân  tộc Khmer.  Bà sinh được hai đứa con gái.</p>
<p>Bác Ba Phi qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1964 tại rừng U Minh  Hạ, nay là ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.  Phần mộ của ông được đặt giữa hai ngôi mộ của bà Ba Lữ và bà Chăm tại  ấp Đường Ranh, xã Khánh Hải nằm ở một góc rừng U Minh Hạ.</p>
<p>Hiện nay, khu nhà và mộ phần của bác Ba Phi được xây dựng thành tuyến  du lịch văn hóa của tỉnh Cà Mau.</p>
<p style="text-align: justify;">Ðến bây giờ chắc không ai bàn cãi về chuyện thích cười của                      người Việt Nam. &#8220;Hóm hỉnh, thích cười, hay cười là  một                      đặc điểm của người Việt Nam&#8221; (Nguyễn Ðức Dân &#8211; Tiếng                       cười thế giới). Chính vì vậy, nhà văn Nguyễn Tuân đã  tổng                      kết được một biên chế đầy đủ thang bậc&#8221; gồm 39 kiểu  cười                      của nhân dân ta.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Ba Phi, một người ở vùng U Minh, nơi cuối trời  Tổ quốc                      ta cũng là một &#8220;người góp cười cho một bản đại hòa  tấu                      cười kéo dài hàng nghìn năm gồm đủ mọi âm sắc, thanh  điệu                      mà may mắn chúng ta còn biết rõ lai lịch đời tư và  hành trang                      văn học truyền khẩu của ông đến bây giờ. Hiện nay,  người dân                      Tây Nam Bộ &#8211; từ già đến trẻ &#8211; không mấy ai không  biết, không                      thuộc đôi ba chuyện kể của ông Ba Phi. Các chuyện  này do ông                      tự nghĩ ra và dùng phương pháp truyền ngôn kể lại  cho một                      vài người quen biết trong xóm làng nghe. Rồi người  nghe tiếp                      tục kể lại cho người khác, cứ thế mà lan dần ra.  Thời trẻ                      của ông Ba Phi có câu chuyện phổ biên quanh vùng là  chuyện                      &#8220;ăn trứng rồng&#8221;. Ðên giai đoạn sau năm 1954 mới                      &#8220;rộ&#8221; lên nhiều chuyện mới và lan ra khỏi vùng U                      Minh, mà phần nhiều là do cán bộ, chiên sĩ đi công  tác có                      dịp ghé nhà ông ở xã Khánh Bình Tây (Cà Mau) truyền  miệng                      cho nhau nghe.</p>
<p style="text-align: justify;">Trước năm 1970 là năm ông Ba Phi qua đời, không có  văn bản                      nào ghi chép lại các chuyện đó, kể cả người trong  thân tộc                      ông. Ðiều này chứng tỏ các câu chuyện kể của ông Ba  Phi là                      chuyện truyền ngôn. Tuy vậy các chuyện này mang hình  thức                      cấụ trúc văn học: Có mở đề (exposition), thắt nút  (noeud)                      và kết thúc (dénouement). Dòng chuyện kể của ông Ba  Phi cho                      phép chúng ta hình dung một loại tiểu thuyết chương,  hồi rút                      gọn mà dù có đảo lộn trật tự thế nào cũng giữ được ý  nghĩa                      và tính xuyên suốt của các chuyện kể.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhìn chung hệ thống chuyện kể này, chuyện nào cũng  mang lại                      cho người nghe trước hết là tiếng cười sảng khoái,  mượt mà                      âm sắc trào lộng, rất đặc hiệu Ba Phi, còn ở tầng  sâu câu                      chuyện thường là có sự gởi gắm sâu sắc về nội dung.  Trước                      khi đi sâu vào những vấn đề cốt lõi, ta hãy nghe ông  kể về                      chuyện nếp dẻo của đất U Minh.</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Giáp tết năm đó, hai vợ chồng tôi quết bánh phồng  bằng                      thứ nếp cấy tại rừng U Minh. Do tôi bổ mạnh tay, bột  nếp văng                      lên xà nhà. Con chó mực thấy vậy liền nhảy lên táp  miếng bột.                      Tức thì nó bị treo lơ lửng trên xà nhà như cá mắc  câu. Sợ                      quá con chó vẫy vùng dữ dội. Cuối cùng nó sứt ra rớt  xuống                      đất nghe cái &#8220;bịch&#8221;. Coi kỹ lại cái đầu nó cũng                      dính trên xà nhà&#8217;. Tính tất yếu của chuyện kể dân  gian thường                      bị &#8220;biên tập&#8221; hoặc &#8220;hiệu chỉnh&#8221; lại trong                      quá trình câu chuyện &#8220;lưu lạc&#8221; trong &#8220;Công                      &#8211; chúng &#8211; đồng &#8211; tác &#8211; giả&#8221;. Lại có trình trạng công                       chúng hâm mộ tự giác đóng góp sáng tác của mình vào  đó, gây                      sự pha tạp làm lẫn lộn với dòng chuyện kể chính  thống của                      người khởi xướng. Một vài người còn sáng tác ngay  trên cái                      nền câu chuyện của ông Ba Phi bằng văn học thành  văn. Chính                      điều này vừa góp phần &#8220;tam sao thất bổn&#8221; vừa làm                      lệch lạc, méo mó phong cách Ba Phi. Ðôi khi chuyện  kể còn                      đánh mất nguồn cảm hứng chủ đạo lẫn nghệ thuật đặc  trưng của                      dòng chuyện kê đặc sắc này. Từ sau thập niên 70 của  thế kỷ                      này, chuyện kể của ông Ba Phi càng &#8220;rộ&#8221; lên trên                      báo chí nhiều nơi như một dấu hiệu chấm hết chiếc  hoa mai                      cuối cùng trên cành xuân rực rỡ của dòng chuyện Ba  Phi. Tuy                      nhiên, trong đám lẫn lộn, chúng ta có thể tìm thấy  dễ dàng                      các chuyện kể chính thống của dòng chủ lưu của tác  giả Ba                      Phi bởi tính đặc thù của nó: không tên, ngắn gọn,  sắc sảo,                      trào lộng, nhiều tầng ý nghĩa. Chuyện kể của ông Ba  Phi hoàn                      toàn nằm trong địa giới rừng U Minh với những &#8220;nhân  vật&#8221;                      vốn là đặc sản của khu rừng đặc chuẩn này như lúa  gạo, trăn,                      rắn, rùa, ong mật&#8230; Mỗi &#8220;nhân vật&#8221; này được xây                      dựng thành một chuyện kể. Với lươn, trăn, rắn, ông  có chuyện                      &#8220;ăn trứng rồng&#8221;, với rùa, có &#8220;Tàu rùa&#8221;,                      với ếch nhái, có &#8220;Câu ếch&#8221;; với ong mật, có &#8220;Gác                      kèo&#8221;, với heo rừng, có &#8220;Chó nhà săn heo rừng&#8221;&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Các &#8220;nhân vật&#8221; này thường xuyên chi phối nguồn                      cảm hứng sáng tạo của tác giả. Tài năng sáng tạo của  ông Ba                      Phi, trước hết là cảm hứng nhận thức thế giới và  phương pháp                      chiếm lĩnh hiện thực. Ðó là quá trình thông qua tư  duy sáng                      tạo, xác lập mối quan hệ giữa hiện thực và hư cấu,  nhằm hợp                      lý hóa chúng trong quá trình vận động của dòng  chuyện kể.                      Nghệ thuật chuyện kể của tác giả Ba Phi luôn luôn  tuân thủ                      pháp trào lộng thông qua phương thức phóng đại sự  vật vốl                      là nguôn cảm hứng chủ đạo hoặc chủ đề tư tưởng.  Phương thức                      phóng đại trong chuyện kể của ông Ba Phi được hiểu  như mộ                      thứ thuật ngữ (terme technique) hoặc một kỹ xảo  (adroi) đầy                      bản lĩnh, rất đặc trưng. Cấu trúc chuyện của ông là  kết quả                      của một quá trình lĩnh hội thế giới thông qua bản  lĩnh Ba                      Phi để cho thấy một thế giới thứ hai hấp dẫn, sinh  động và                      sâu sắc hơn. Chuyện kể luôn luôn gây không khí hào  hứng, nôn                      nao, háo hức, một tâm lý chờ đợi hồi kết cục vốn  không lâu                      lắc gì. Và tại thời điểm đó, chuyện kể bao giờ cũng  nổ ra                      một trận cười mang ý nghĩa thế giới sâu sắc. Chuyện  kể của                      ông Ba Phi thuộc loại đa tầng thông tin.</p>
<p style="text-align: justify;">Chuyện &#8220;Cọp xay lúa&#8221; sau đây là một thí dụ:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8220;Ðêm hôm đó, lúc tôi đang xay lúa, bỗng nghe hơi  cọp,                      liền biết &#8220;ông thầy&#8217; đang rình bên ngoài. Nhờ biết  trước                      tôi vừa xay lúa vừa thủ thế. Quả nhiên trong chớp  mắt, cọp                      nhào vô chụp tôi. Tôi liền né sang bên. Cọp lỡ đà,  vướng hai                      chân vào giằng xay, thế là nó sa đà theo vòng quay  của cái                      cối đang quay. Thấy vậy, tôi hối &#8220;bả&#8221; xúc lúa đổ                      vào cối. Ðợi cho tới lúc cọp xay hết tám giạ lúa,  tôi liền                      hét một tiếng thật to: &#8220;Cọp&#8221; nó hoảng quá, đâm đầu                      chạy tuốt vào rừng. Từ đó về sau cọp &#8220;bỏ tật&#8221; bắt                      người ăn thịt&#8221;. Trong chuyện này, tầng thứ nhất, ông                       thông tin về loài cọp. Phương, pháp của tác giả là  lợi dụng                      kiến thức phổ biến trong đời thường: cọp là loài thú  dữ, rất                      hung hăng, bắt người ăn thịt&#8230; mà không cần kê lể  lôi thôi                      gì cả. Tầng hai: quan niệm của tác giả: con người  thông minh                      hơn thú vật, kể cả thú dữ. Tầng ba: lời nhắn nhủ  người đời:                      cần phải thông minh, tỉnh táo, thận trọng và gan góc  mới bám                      được rừng mà sống. Tầng thông tin này có ý nghĩa  quan trọng                      hơn, vì nó thuộc phạm trù chinh phục thiên nhiên mà  cả loài                      người không ngừng phấn đấu để vươn tới làm chủ thiên  nhiên                      (Các chuyện khác cũng có mô-típ tương tự chuyện  này). Về mối                      quan hệ trong câu chuyện vừa kể, là hoàn toàn mang  tính chân                      thật. Bởi vì cái cối xay luôn luôn quay theo lực tác  động,                      đồng thời trong chuyển động quay ấy, bản thân nó còn  có một                      lực tự thân được sinh ra trong quá trình chuyến động  mà môn                      vật lý học gọi là quán tính. Về phía cọp, nó giữ  thăng bằng                      nhờ bốn chân, nên khi nó bị kẹt hai chân ở giằng  xay, (lại                      gặp phải quán tính quay tác động, cùng với tâm lý  thất bại                      do chụp hụt con mồi) cọp mất đà, lúng túng? buộc  phải phục                      tùng vòng quay của cối xay. Vậy là từ chỗ chiếm lĩnh  hiện                      thực, tác giả Ba Phi tạo ra mối quan hệ với sự vật  tưởng như                      phi lý mà hữu lý đến kinh ngạc. Tất nhiên, việc  phóng đại                      sự vật vốn là phương thức có tính đặc thù của dòng  chuyện                      kể này.</p>
<p style="text-align: justify;">Do tính cách ông Ba Phi vốn là một con người thích  hài, nên                      khẩu khí trong đời thường của ông bị một ít người  ngộ nhận                      là ông nói dóc. Thực ra, trong từ vựng (vocabulaire)  tiếng                      Việt, các từ như láo, dóc, phét, đùa&#8230; không hề  đồng nghĩa                      với nhau. Tất nhiên, trong thực tế xử sự có lúc có  nơi nào                      đó, ông Ba Phi đã sử dụng một trong các cách nói vừa  kể trên.                      Nhưng theo chúng tôi trong một chừng mực nghiên cứu,  cần phải                      có cách nhìn khoa học, nghiêm túc để thẩm định trong  đám &#8220;sa                      khoáng&#8221; kia, đâu là vàng ròng, đâu là sạn sỏi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trở lên, chúng tôi cho rằng phương thức phóng đại  sự vật                      của ông Ba Phi là một thuật ngữ, một kỹ xảo được ông  sáng                      tạo trong quá trình sáng tác, nếu không nói là một  thứ ngôn                      ngữ chuyên ngành được coi là mấu chốt có tính quyết  định vận                      mệnh của các chuyện kể của tác giả dân gian Ba Phi.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong chuyện cười Trung Quốc có &#8220;Lịch đại tiếu  thoại                      tập&#8221; do tác giả Vương Lợi Chi tuyển trong số 70  truyện                      cười trong nước từ thời Tam quốc đến cuộc cách mạng  Tân Hợi                      1911 . Tuy nhiên, phần lớn các truyện trong sách này  không                      thuộc truyện cười như các loại truyện Trạng ở miền  Bắc nước                      ta (Trạng Quỳnh, Trạng Bột, Trạng Bùng&#8230;) hoặc  truyện tiếu                      lâm, trạng hài kiểu Bai Giai &#8211; Tú Xuết mà phần lớn  là các                      câu chuyện vui, ý nhị. Các nhà nghiên cứu văn học  hiện thực                      phê phán phương Tây cho biết, họ cũng không tìm thấy  ở đó                      có tiếng cười trào lộng như dạng truyện cười ở nước  ta. Ngay                      cả truyện có dạng &#8220;Bợm Bảy&#8221; (roman picaresque) cũng                      không chứa đựng yếu tố cười như ở các truyện cười  Việt Nam.                      Thế mà ven rừng U Minh có một Ba Phi đã góp phần vào  kho tàng                      văn học truyền khâu của nhân dân ta những tiếng cười  sáng                      giá.</p>
<p style="text-align: justify;">Văn học truyền khẩu vốn có nguồn gốc từ xa xưa.  Chính loại                      hình văn học bình dị và sống động này đã.tạo nến  những huyền                      thoại, những truyền&#8217; thuyết mà bất cứ ở đâu, bất cứ  thời kỳ                      nào cũng có. Nhưng trong số đó, không phải không có  sự rơi                      rụng vì bản thân nó không được cuộc sống thừa nhận.  Vì thế                      mà sổ lượng cũng không nhiều so với các loại hình  văn học                      khác. Vả lại, lực lượng sáng tác loại hình văn học  này xưa                      nay rất hiếm, nó giống như cây gụ, cây chò vốn mọc  trong rừng,                      nhưng tự nó không bao giờ mọc thành rừng thuần  chủng, càng                      không phải rừng nào cũng sản sinh được loài gỗ quí  hiếm đó.                      Ðiều này càng làm ta trân trọng biết bao các tác giả  văn học                      truyền khẩu nói chung, tác giả dân gian Ba Phi nói  riêng.                      Trước khi từ biệt khu rừng U Minh hùng vĩ của phương  Nam Tổ                      quôc để yên nghỉ đời đời, các câu chuyện truyền ngôn  của tác                      giả dân gian Ba Phi đã dựng nên cho ông một tượng  đài đứng                      mãi cùng năm. (St)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/bac-ba-phi-m%e1%bb%99t-hi%e1%bb%87n-t%c6%b0%e1%bb%a3ng-van-h%e1%bb%8dc-truy%e1%bb%81n-kh%e1%ba%a9u-%e1%bb%9f-vung-u-minh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơn Nam &#8211; nhà văn của vùng đất mới Nam bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-3/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-3/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 06:38:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[phố cổ Sài Gòn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=230</guid>
		<description><![CDATA[Sơn Nam: Cả đời viết về cuộc khẩn hoang Nam bộ Không chỉ là một nhà văn, nhà khảo cứu với hàng chục tác phẩm được yêu thích, nhà văn Sơn Nam còn là một pho sử liệu sống về văn hóa, lịch sử, con người vùng đất phương Nam thời khẩn hoang. Mới đây, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #ff0000;">Sơn Nam:</span> Cả đời  viết về cuộc                    khẩn hoang Nam bộ </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/SonNam1.jpg"><img class="size-full wp-image-231 alignleft" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="SonNam" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/SonNam1.jpg" alt="" width="113" height="150" /></a><strong>Không chỉ là một nhà văn, nhà khảo cứu với hàng chục                      tác phẩm được yêu thích, nhà văn Sơn Nam còn là một  pho sử                      liệu sống về văn hóa, lịch sử, con người vùng đất  phương Nam                      thời khẩn hoang. Mới đây, một bức tượng chân dung  ông đã được                      đặt tại Làng du lịch Bình Quới như một sự ghi nhận  những đóng                      góp của ông đối với văn hóa Nam Bộ.</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Thưa nhà văn, vì lý do gì  mà những                      tác phẩm văn học cũng như khảo cứu của ông đều hướng  về con                      người, lịch sử, văn hóa, địa lý&#8230; của vùng đất  phương nam?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Tôi bắt đầu viết từ những năm đầu của thập niên  50, viết                      trong khu kháng chiến. Tác phẩm của tôi chỉ được  công chúng                      biết đến nhiều khi được in và phát hành ở Sài Gòn.  Từ năm                      1955, Hương rừng Cà Mau được đăng tải nhiều kỳ trên  báo Nhân                      Loại .</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi định hướng ngay từ buổi đầu đến với nghề viết:  viết về                      cuộc khẩn hoang miền nam. Cả đời tôi đã đi theo định  hướng                      đó và bây giờ vẫn tiếp tục. Định hướng như vậy vì  tôi đã sinh                      ra, lớn lên và sống ở vùng đất U Minh.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuộc khẩn hoang miền nam của chúng ta là một cuộc  khẩn hoang                      rất đặc biệt &#8211; cuộc khẩn hoang hiền lành nhất so với  bao cuộc                      khẩn hoang khác của thế giới, không tranh đoạt,  không bắn                      giết&#8230; Những người đi khẩn hoang là những nông dân  chất phác,                      ít chữ&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Tôi quan niệm: Viết văn để viết văn, để yêu nước  chứ không                      nhằm một mục đích nào khác. Văn nghệ khác với văn  hóa thông                      tin&#8230; Muốn viết văn tốt, cần phải khảo cứu. Miền  nam chưa                      có lịch sử, cho nên tôi phải khảo cứu về con người  và vùng                      đất Nam Bộ thì mới có thể viết về con người và vùng  đất đó&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Với ba tập hồi ký, hơn 30 đầu  sách văn học và khảo cứu                      được công chúng yêu thích (Hương rừng Cà Mau, Âm  dương cách                      trở, Ngôi nhà mặt tiền, Biển cỏ miền Tây, Lịch sử  khẩn hoang                      miền nam, Bến Nghé xưa, Gia Định xưa&#8230;), ông có hài  lòng                      với những gì mình đã viết? Tác phẩm nào là tác phẩm  ông tâm                      đắc nhất?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Tôi ưng ý tác phẩm của mình là một chuyện, công  chúng có                      thích tác phẩm đó hay không, lại là chuyện khác. Vấn  đề là,                      sự ưng ý của tôi và sự yêu thích của công chúng phải  gặp nhau.                      Tôi nghĩ, đời một người viết chỉ cần để lại một tác  phẩm hay,                      có ý nghĩa là đủ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu chỉ cần một  Văn tế                      nghĩa sĩ Cần Giuộc là đủ.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Không chỉ là một nhà văn, nhà  khảo cứu mà ông còn như một                      pho tư liệu sống về con người, văn hóa, địa lý, lịch  sử&#8230;                      của vùng đất phương nam. Làm thế nào ông có thể đạt  được điều                      đó?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Như đã nói, tôi sống, viết và làm việc có định  hướng. Tôi                      tập trung tất cả sức lực và thời gian cho công việc  mình theo                      đuổi, đến mức không làm tròn trách nhiệm của một  người cha                      đối với con cái&#8230; Cả đời tôi đọc sách &#8211; các loại  sách về                      phong tục, tập quán và văn học tiếng Pháp. Tôi tiếp  cận và                      thâm nhập thực tế cuộc sống của người dân Nam Bộ&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">* Con người Nam Bộ đã hiện ra  trong tác phẩm của ông với                      những tính cách rất đẹp, rất đặc biệt. Theo thời  gian, dường                      như những tính cách của người miền nam giờ đã thay  đổi&#8230;                      Ông có e ngại những tính cách đẹp đó sẽ mai một theo  sự biến                      động của xã hội?</p>
<p style="text-align: justify;">- Đúng là sự biến đổi của xã hội đã ảnh hưởng và  làm thay                      đổi tính cách của con người miền nam.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên, tôi không bi quan, bởi tôi nghĩ, bản  chất Nam                      Bộ sẽ không bao giờ mất đi. Ngay như hiện tượng  người Sài                      Gòn hay ăn nhậu hiện nay cũng là biểu hiện cho việc  làm kinh                      tế của người Sài Gòn. Không ăn nhậu thì không làm  kinh tế                      được. Giao tiếp tại bàn nhậu cũng để làm kinh tế.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Theo ông, nơi nào của TP Hồ Chí  Minh đáng được xem là phố                      cổ của Sài Gòn?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Đó là Gò Vấp. Xét ở nhiều khía cạnh như kiến  trúc, tôn                      giáo, ẩm thực&#8230;, Gò Vấp xứng đáng là phố cổ Sài  Gòn, cần                      được đầu tư để là phố cổ Sài Gòn. Gò Vấp có nhiều  kiến trúc                      cổ như các đình, chùa, miếu&#8230; Gò Vấp tập trung  nhiều tu sĩ                      và đạo tỳ, có đủ các món ăn ngon của đất phương nam.  Dân Gò                      Vấp làm từ thiện nhiều, nổi tiếng là bà Lệ Phát ở  chùa Châu                      An. Thích làm từ thiện là một đặc điểm của dân khẩn  hoang.                      Gò Vấp cũng có chùa Nghệ Sĩ, một hiện tượng độc đáo  chỉ có                      ở Việt Nam&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Không chỉ khảo cứu, viết văn,  ông còn có nhiều năm viết                      báo. Ông nghĩ gì về sự khác biệt và mối tương quan  giữa nghề                      văn và nghề báo?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Trước 1975, tôi đồng thời viết cho bảy tờ báo.  Sau năm                      1975, tôi tiếp tục cộng tác với nhiều tờ báo. Thật  ra, tôi                      mê viết văn hơn viết báo và với tôi, viết văn bao  giờ cũng                      là trọng tâm. Tôi viết báo để kiếm sống và để giải  trí&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;">Báo và văn là hai nghề khác nhau, đừng tưởng hễ  viết báo                      hay là có thể viết văn hay và ngược lại&#8230; Người  viết báo                      cuối đời còn lại cái tên, có mấy độc giả nhớ đọc bài  báo cụ                      thể? Nhà văn thì được độc giả nhớ cả bút danh lẫn  tác phẩm.                      Một điểm khác biệt nữa: nhuận bút báo bao giờ cũng  cao hơn                      nhuận bút văn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Mới đây, Làng du lịch Bình Quới  đã dựng tượng của ông.                      Ông có thể cho biết cảm tưởng về việc này?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Tôi rất vui. Tôi nghĩ, làm tượng phải để cho công  chúng                      coi chứ không phải để cho tôi coi&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Cuộc sống hiện nay và sinh hoạt  hằng ngày của ông như thế                      nào?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Tôi hiện sống cùng các con nhưng tự lo cho kinh  tế của                      bản thân. Gần đây tôi ít viết báo, hầu như không  viết. Tôi                      đủ sống bằng nhuận bút của những cuốn sách cũ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thật ra, nhu cầu vật chất của tôi rất khiêm tốn. Ăn  một đĩa                      cơm bình dân từ 4.000 đồng đến 7.000 đồng, tôi cũng  thấy ngon.                      Mỗi buổi sáng tôi thức dậy lúc 6g30, sau đó ra quán  cà-phê                      ở Nhà Truyền thống quận Gò Vấp. Tôi rất thích không  khí yên                      tĩnh của quán cà-phê này. Nơi đây đã trở thành một  điểm hẹn                      để tôi gặp gỡ bạn bè, giới báo chí&#8230; Sau 8giờ, tôi  lên xe                      ôm để bắt đầu một ngày rong ruổi ngẫu hứng với bạn  bè, người                      dân&#8230; Đi để tìm niềm vui và cũng để giao lưu, học  hỏi, thâm                      nhập cuộc sống&#8230; Chiều tối, tôi mới trở về nhà.</p>
<p style="text-align: justify;">Ở tuổi này rồi, tôi cho phép mình tự do, cái gì  vui, cái                      gì thích thì làm&#8230; Tôi hướng đến và ngày càng tin  vào giá                      trị và sự cần thiết của văn hóa tâm linh đối với đời  sống                      con người.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>* Gần 80 tuổi, trải qua một đời  dài với nhiều biến động,                      hạnh phúc lớn nhất mà ông cảm nhận được là gì ?</strong></p>
<p style="text-align: justify;">- Với tôi, hạnh phúc lớn nhất là không gây thù  chuốc oán                      với ai, không ai ghét mình&#8230; (Nếu lỡ người ta oán  ghét mình                      thì cũng đành chịu!). Gần đây, tôi cũng vui khi làm  được một                      số việc từ thiện nho nhỏ trong khả năng cho phép&#8230;  Vui vì                      thấy mình đem lại niềm vui cho người khác.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>*Xin cảm ơn nhà văn về cuộc trò  chuyện này.</strong></p>
<p style="text-align: right;">(Nguồn:  http://phongvansonnam.blogspot.com)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-3/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơn nam &#8211; nhà văn của vùng đất mới nam bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-2/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-2/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 06:33:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[con người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Nhà văn Sơn Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=227</guid>
		<description><![CDATA[Nhà văn Sơn Nam với công trình khảo cứu về con người Nam Bộ tôi quan niệm: viết văn để viết văn, để yêu nước, chứ không nhằm một mục đích nào khác NXB Trẻ đã ký hợp đồng giữ bản quyền toàn bộ tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, trong đó nổi bật [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p><span style="color: #3366ff;"><strong>Nhà văn Sơn Nam với công  trình khảo                      cứu về con người Nam Bộ</strong></span></p>
<p><strong><em>tôi quan niệm: viết văn để viết văn, để  yêu nước,                      chứ không nhằm một mục đích nào khác</em></strong></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/NhavanSonNam.jpg"><img class="size-full wp-image-228 alignleft" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="NhavanSonNam" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/NhavanSonNam.jpg" alt="" width="86" height="100" /></a>NXB                      Trẻ đã ký hợp đồng giữ bản quyền toàn bộ tác phẩm  của nhà                      văn Sơn Nam, trong đó nổi bật là công trình biên  khảo công                      phu về nền văn hóa Nam Bộ. Công trình này đã mở ra  hướng tiếp                      cận mới với con đường mở nước và dựng nước cũng như  cội nguồn                      văn hóa tinh thần của dân tộc ta trên vùng đất mới  phía Nam.</p>
<p>Lịch sử khẩn hoang miền Nam là kết quả quá trình tìm  tòi,                      chắt lọc bằng kinh nghiệm sống mấy chục năm lặn ngụp  trong                      vốn tư liệu quý của dân tộc của nhà văn Sơn Nam.  Sách chia                      làm hai phần, phần thứ nhất đi sâu vào khảo cứu công  cuộc                      mở rộng, phát triển xứ Đàng Trong; xác định vùng  biên giới                      Việt – Miên; chỉnh đốn nội trị… Phần thứ hai chủ yếu  đưa ra                      cái nhìn bản chất về các vùng đất Rạch Giá, Bạc  Liêu, Cà Mau,                      Cần Thơ cùng những triệu chứng bất ổn của chế độ  thực dân                      Pháp. Phần phụ lục phân tích các tài liệu liên quan  đến hai                      biến cố quan trọng về quyền sở hữu đất riêng: Vụ  Ninh Thạnh                      Lộc năm 1927 ở Rạch Giá và vụ Nọc Nạn năm 1928 ở Bạc  Liêu.                      Dư luận mọi giới thời bấy giờ đặc biệt chỉ trích  chính sách                      ruộng đất của thực dân. Xung quanh hai biến cố này  có nhiều                      giai thoại truyền khẩu khiến chúng trở thành chuyện  truyền                      kỳ.</p>
<p>Trong lời giới thiệu, tác giả ghi: “Đầu đề Lịch sử  khẩn hoang                      miền Nam quá lớn, đòi hỏi sự làm việc cần cù, kiên  nhẫn, lâu                      dài của một tiểu ban, một nhóm có thẩm quyền. Nhưng  trong                      hoàn cảnh hiện tại, chúng tôi đánh bạo, thử vạch một  lối để                      trèo núi cao. Chắc chắn là có nhiều lối khác để đi  tới đỉnh                      núi. Chúng tôi chỉ có hy vọng là dẹp một mớ sỏi gai,  để thấy                      bóng dáng đỉnh núi…”. Song, điểm khởi đầu là công  cuộc Nam                      tiến của cư dân Việt thế kỷ 16,17 đã cho thấy người  viết phải                      có quá trình tích luỹ, dày công lật lại cả một vùng  dân cư                      văn hóa đặc sắc Phù Nam, Óc Eo… Ông đã phân tích và  chỉ rõ                      những lý do khiến vua chúa Việt Nam thúc đẩy việc  khai hoang,                      đó là: 1/ Mở rộng địa bàn thống trị, đất rộng, dân  giàu thì                      kinh đô được bảo vệ chu đáo hơn, 2/ Thuế điền và  thuế đinh                      gia tăng nhanh chóng, 3/ Nạn đói kém được giảm  thiểu, nơi                      này thất mùa, nơi kia bù lại, ít có nguy cơ nội  loạn, 4/ Dân                      số tăng gia, thêm lính tráng, thêm dân xâu. Ngược  lại, về                      phía dân chúng, khẩn hoang là việc tích cực, không  phải là                      hưởng thụ, thụ động, chờ thời vận.</p>
<p>Cũng trong cuốn sách, tác giả đặc biệt quan tâm  đến các                      vấn đề nổi cộm trong thời kỳ thực dân Pháp tác động  mạnh đến                      việc khẩn hoang ở miền Nam như: tình trạng xáo trộn  gia cư                      và tài sản; vấn đề lưu dân ở Sài Gòn; luật về đất  công thổ;                      tình hình các tỉnh dưới mắt người Pháp…Sách khái  quát việc                      khai khẩn thời Pháp thuộc ở Nam kỳ qua những số liệu  thống                      kê cụ thể, phần lớn từ tài liệu của viên chức Pháp  soạn ra.</p>
<p>Khi người Pháp đến, những vùng thuận lợi có sông  rạch đều                      biến thành ruộng rồi. Trong thời kỳ cai trị của  người Pháp,                      việc quan trọng hàng đầu phải kể đến là đào kinh  xáng ở những                      nơi có thể làm ruộng được, tạo đường giao thông  chuyên chở,                      rút bớt nước lụt, nước phèn. Sách đã dành nhiều  trang nói                      về sức ảnh hưởng to lớn của kinh đào trong bước  đường lập                      nghiệp của người nông dân. Đặc biệt kinh xáng Xà No  có thể                      coi là công trình lớn lao đầu tiên của Nam kỳ về  đường thuỷ,                      có thể so sánh với việc thiết lập đường xe lửa Sài  Gòn &#8211; Mỹ                      Tho: “Kinh Xà No đào từ 1901 đến tháng 7/1903 là  xong, bề                      ngang trên mặt rộng 60 mét, dưới đáy 40 mét tổn phí  3.680.000                      quan. Lần này, nhà thầu sử dụng loại xáng lớn chạy  bằng hơi                      nước, với những giàn gàu bằng sắt. Máy của xáng mạnh  350 mã                      lực, mỗi gàu sắt múc được 375 lít, thổi bùn ra xa  đến 60 mét…                      Vài chuyện khôi hài đã xảy ra: một số dân chạy theo  xáng,                      dùng thúng mà hứng bùn để tìm vàng, nhưng chỉ gặp  xương người                      và xương thú. Nhiều người cho rằng cứ “cắm dùi” là  đất ấy                      về phần mình, vì mình đến trước nhứt…”.</p>
<p>Một trong những phong trào tranh đấu của trí thức  Cần Thơ                      có tầm ảnh hưởng quy mô là phong trào Duy Tân do  Gilbert Trần                      Chánh Chiếu cầm đầu. Lật lại những báo cáo với thống  đốc Nam                      kỳ của các viên chủ tỉnh ở Cần Thơ, tác giả Sơn Nam  đã đưa                      ra những chứng cứ thuyết phục về tinh thần dân tộc  của người                      Việt. Báo cáo năm 1910 – 1911 thú nhận: “Không có  cuộc biến                      loạn, không có sự bộc lộ cụ thể nào xảy ra. Tuy  nhiên dưới                      bề ngoài yên ổn này, ta nhận ra một cách dễ dàng là  còn một                      phần của dân chúng – may thay số người này không  đông đảo                      cho lắm &#8211; họ có thái độ đối lập và thài độ chỉ trích  không                      nhân nhượng, tận gốc đối với tất cả những gì mà  chánh quyền,                      những gì xuất phát từ phía người Pháp” (…) “Gilbert  Chiếu                      được toà xử miễn tố, vì vậy mà họ càng lẫy lừng hơn,  còn lại                      một số người đồng loã trong vụ án cũng được miễn  tố…”</p>
<p>Nếu Lịch sử khẩn hoang miền Nam giúp độc giả và  những ai                      quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử dân tộc có cái  nhìn                      hoàn thiện, chân xác về “những khoảng trống lịch sử  trong                      bước đường mở nước và dựng nước” của người Việt thì  Đình miếu                      và lễ hội dân gian miền Nam hướng bạn đọc đến những  hoạt động                      tinh thần, tâm linh, đến những lễ hội truyền thống  đậm màu                      sắc địa phương mang tính chất bảo tồn đời sống tinh  thần.                      Sách gồm bốn phần chính : 1/ Lăng Ông bà Chiểu và lễ  hội văn                      hóa dân gian, 2/ Nghi thức và lễ bái của người Việt  Nam, 3/                      Đình miếu và lễ hội dân gian, 4/ Người Việt Nam có  dân tộc                      tính không?</p>
<p>Đặc biệt phần cuối được viết nhân cuộc tranh luận  sôi nổi                      giữa một bên là những người chủ trương Âu Mỹ hóa mọi  sinh                      hoạt cuộc sống ở Việt Nam với một bên là những người  đấu tranh                      bảo vệ nền văn hóa dân tộc, chống đối lại sự xâm  lăng về văn                      hóa của chủ nghĩa thực dân mới diễn ra ở Sài Gòn nửa  cuối                      thập niên 60 của thế kỷ trước. Nhà báo Vũ Oanh khi  đọc sách                      đã viết: “Với truyền thống hàng ngàn năm văn hiến,  văn hóa                      dân gian vẫn trường tồn cùng lịch sử dựng nước và  giữ nước,                      là vũ khí đấu tranh độc đáo, chống lại sự đồng hóa  của các                      thế lực xâm lược, luôn phát huy và giữ được nét bản  sắc riêng.                      Cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa nền kinh tế, việc  bảo tồn                      và phát huy vốn quý của các di sản văn hóa tinh thần  của dân                      tộc ta đang là vấn đề hết sức bức thiết, đảm bảo cho  công                      cuộc phát triển toàn diện của đất nước hiện tại cũng  như lâu                      dài. Cuốn Đình miếu và lễ hội dân gian của nhà văn –  nhà khảo                      cứu Sơn Nam sẽ góp phần vào việc giới thiệu những di  sản văn                      hóa tinh thần trên, là tài liệu tham khảo bổ ích cho  việc                      nghiên cứu, cho các nhà trường, thư viện và cả những  người                      Việt Nam ở nước ngoài muốn tìm hiểu truyền thống văn  hóa dân                      tộc Việt Nam”.</p>
<p>Trong sách này, độc giả có thể tra cứu một cách  chính xác                      nguồn gốc, biến sự, nghi thức của lăng Ông bà Chiểu &#8211;  một                      trong những chốn thiêng liêng bậc nhất và có tầm ảnh  hưởng                      lớn nhất đến đời sống tâm linh người dân Nam Bộ. Từ  Tả quân                      Lê Văn Duyệt tới lăng ông bà Chiểu là sự chuyển hóa  lớn về                      mặt tâm lý xã hội. Nhiều người tỏ ra thiếu cảm tình  khi nhớ                      đến một công thần nhà Nguyễn lại chống vua nhà  Nguyễn nhưng                      dường như thấy mình gần gũi với Ông khi đi ngang qua  miếu                      thờ, phần mộ, cổng Tam quan… Cũng rất ít người biết  rằng:                      trong miếu lăng Ông từ xưa, ngoài ông bà Lê Văn  Duyệt còn                      có thờ hai vị thần khác là Phan Thanh Giản và Tổng  trấn Bắc                      thành Lê Chất.</p>
<p>Ở phần cuối sách, tác giả đưa ra “Những đề tài về  cá tính                      miền Nam” khá đặc sắc và thú vị. Theo Sơn Nam, “cá  tính miền                      Nam không phải là những nét trừu tượng… Không có  “người Việt                      miền Nam” mà chỉ có người Việt Nam. Cuộc di dân vào  Nam là                      do dân Việt thực hiện… Việc khai hoang ở Đồng Nai và  đồng                      bằng Cửu Long là thành tích chung của người Việt Nam  chớ không                      có một sắc dân “Người Việt miền Nam, người Nam kỳ”  nào riêng                      biệt. Người Việt cư ngụ ở Bắc hay Trung phần có  quyền hãnh                      diện và chịu trách nhiệm tinh thần về điều hay điều  dở của                      người Việt cư ngụ ở miền Nam”. Tựu trung, “cá tính  miền Nam”                      là kết quả của sự giao thoa và tiếp biến giữa bản  sắc Việt                      với ba nền văn hóa lớn là Khmer, Trung Hoa và Pháp.</p>
<p>Công trình biên khảo đầy tâm huyết của nhà văn Sơn  Nam, với                      hơn 700 trang được in ấn, trình bày công phu xứng  đáng là                      kho tư liệu văn hóa quý báu. Giá trọn bộ 95.000  đồng, phát                      hành toàn quốc từ tháng 1/ 2004.</p>
<p>(VietNamNet)</p>
</div>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Sơn nam &#8211; nhà văn của vùng đất mới nam bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 28 May 2010 06:29:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Hóa Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Nam bộ học]]></category>
		<category><![CDATA[ông già Nam bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Sơn Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Sơn nam - nhà văn của vùng đất mới nam bộ]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương Nam bộ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=223</guid>
		<description><![CDATA[Hơn nửa thế kỷ nay, từ thập niên 1950, Sơn Nam được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng của văn chương Nam bộ. Ông không những là một nhà văn, mà còn được đánh giá cao như một nhà Nam bộ học, một nhà văn hoá. Những năm gần đây, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p><em><strong>Hơn nửa thế kỷ nay, từ thập niên 1950,  Sơn Nam                      được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng  của văn                      chương Nam bộ. Ông không những là một nhà văn, mà  còn được                      đánh giá cao như một nhà Nam bộ học, một nhà văn  hoá. Những                      năm gần đây, tác phẩm của ông liên tục được xuất bản  và tái                      bản.</strong></em></p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/SonNam.jpg"><img class="size-full wp-image-224 alignleft" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="SonNam" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/SonNam.jpg" alt="" width="225" height="267" /></a><strong>Sơn                       Nam</strong> &#8211; tên thật là Phạm Minh Tài, sinh năm  1926 ở                      vùng quê Kiên Giang. Hồi đầu thế kỷ, ông nội của nhà  văn đã                      đưa cả gia đình từ Cù lao Ông Chưởng ở Long Xuyên  đến lập                      nghiệp ở ven rừng U Minh Cà Mau, nơi phần lớn người  Khmer                      sinh sống. Tuổi thơ của ông được tắm mình trong  hương sắc                      của rừng U Minh với muôn vàn cỏ cây, hoa lá, chim  muông. Ðó                      cũng chính là vốn sống và nguồn cảm hứng sáng tác  được ông                      thể hiện trên các trang viết sau này. Nhà văn Nguyễn  Trọng                      Tín, vốn là bạn văn, và là người ngưỡng mộ tài năng  của Sơn                      Nam, ông nhận xét: &#8220;Nhà văn Sơn Nam là một trong hai                       người còn lại hiểu biết nhiều về Nam bộ. Ông có  nhiều cống                      hiến cho văn chương và là người đứng đầu trong số  các nhà                      văn Nam bộ. Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn rất  nhiều                      công trình khảo cứu và sưu tập về văn hoá Nam bộ.  Ðặc biệt,                      ông là người hiểu biết quá trình hình thành dải đất  Nam bộ.                      Từ hiểu biết uyên bác đó ông lại thể hiện bằng những  trang                      viết rất giản dị khiến nhiều tầng lớp độc giả đều  đọc và dễ                      hiểu tác phẩm của ông&#8221;.</p>
<p>Vốn là nhà văn sống dưới chế độ cũ, để tồn tại cùng  sự nghiệp                      văn chương, nhà văn Sơn Nam đã chọn cách viết văn  theo kiểu                      dã sử hiện đại và khảo cứu lịch sử vùng đất khẩn  hoang Nam                      bộ. Ông nói cách viết này được nhiều độc giả quan  tâm, lại                      không khiêu khích chính quyền đương thời cũ. Tuy  nhiên, người                      đọc tinh tế cũng dễ nhận ra sự đồng cảm tinh thần  yêu nước,                      tưởng nhớ cội nguồn tiên tổ trong những trang viết.</p>
<p>Tác phẩm đầu tay của Nhà văn Sơn Nam là một tập thơ  mang                      tựa đề Lúa reo, do Hội Văn hoá kháng chiến Kiên  Giang xuất                      bản năm 1948. Năm 1951-1952, hai truyện ngắn Bên  rừng Cù Lao                      Dung và Tây đầu đỏ, ông đã giành giải nhất trong  cuộc thi                      do Uỷ ban Kháng chiến-Hành chính Nam bộ tổ chức. Tuy  nhiên,                      ông lại nổi danh trên văn đàn là tập truyện ngắn  Hương rừng                      Cà Mau, xuất bản năm 1962. Nói về tác phẩm của nhà  văn Sơn                      Nam, bạn văn của ông là Nguyễn Trọng Tín nhận xét:  &#8220;Trong                      số những sáng tác của nhà văn Sơn Nam thì tôi thích  nhất là                      truyện ngắn Hương rừng Cà Mau &#8211; đây là tập truyện  ngắn được                      xếp ở vị trí cao trong số những tác phẩm văn học đặc  sắc nhất                      của Nam bộ. Hồi còn nhỏ, tôi đọc tác phẩm của ông là  vì mình                      thích, lớn lên khi bước vào nghiệp văn chương tôi  đọc tác                      phẩm của Sơn Nam như một cách học làm nghề. Tôi học  ông về                      cách viết văn, về cách ứng xử của người viết văn Nam  bộ&#8221;.</p>
<p>Ngoài truyện dã sử, truyện ngắn, nhà văn Sơn Nam  còn thành                      công cả ở những công trình biên khảo có hệ thống như  Lịch                      sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn Gia Ðịnh  xưa, Bến                      Nghé xưa&#8230; Và đây cũng là những đề tài mà ông đeo  đuổi suốt                      sự nghiệp. Nhà văn Sơn Nam tâm sự: Lịch sử Nam bộ  Việt Nam                      là lịch sử của công cuộc khẩn hoang trường kỳ và tự  lực. Ý                      thức khẩn hoang mở đất ăn sâu vào máu thịt tôi. Ðời  ông nội                      rồi đời cha tôi lo khẩn hoang, mở đất. Nên những  trang viết                      của tôi dành cho việc khẩn hoang mở đất và thế là  viết về                      khẩn hoang trở thành sở trường của tôi. Hơn nữa đây  cũng là                      đề tài mà người dân Nam bộ rất quan tâm, bởi trong  ký ức của                      những người Sài Gòn cũ, người Nam bộ cũ vẫn còn lưu  giữ nhiều                      ấn tượng trong việc vật lộn với thiên nhiên, chinh  phục thiên                      nhiên trong những ngày đầu mở đất, mở nước.</p>
<p>Ngày nay, cho dù trong thế giới văn chương muôn màu  muôn                      vẻ, nhưng trong lòng bạn đọc yêu văn chương vẫn giữ  lại nét                      chân dung về Sơn Nam &#8211; đó là một nhà văn Nam bộ với  tính cách                      đặc biệt Nam bộ. Ông không giống ai, đi theo con  đường mà                      mình đã chọn: quay về cội nguồn văn hoá dân tộc, mà  chính                      xác là văn hoá Nam bộ bằng lối văn mộc mạc, bằng chữ  nghĩa                      giản dị gần gũi với đời sống thực tế.</p>
<p><strong>Tác phẩm đã xuất bản:</strong></p>
</div>
</blockquote>
<ul style="text-align: justify;">
<li>
<div>Chuyện Xưa Tích Cũ (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Tìm Hiểu Ðất Hậu Giang (BK)</div>
</li>
<li>
<div>Hương Rừng Cà Mau(truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Chim Quyên Xuống Ðất (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Văn Minh Miệt Vườn (BK)</div>
</li>
<li>
<div>Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam (BK)</div>
</li>
<li>
<div>Hai Cõi U Minh (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Vọc Nước Dỡn Trăng (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Bà Chúa Hòn (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Bến Nghé Xưa (BK)</div>
</li>
<li>
<div>Cá Tính Miền Nam (BK)</div>
</li>
<li>
<div>Ngôi Nhà Mặt Tiền (truyện)</div>
</li>
<li>
<div>Một Mảnh Tình Riêng (bút ký)</div>
</li>
</ul>
<div style="text-align: justify;">
<p>Tất cả các tác phẩm của Sơn Nam đã được Nhà xuất bản  Trẻ TP.HCM                    mua bản quyền trọn đời từ 12-2002.</p>
<p>Phim Mùa len trâu chuyển thể từ tác  phẩm Mùa                    len trâu và Một cuộc biển dâu trong tập truyện Hương  rừng Cà                    Mau của ông đã đạt giải Bông sen bạc trong LHP VN lần  thứ 15                    và rất nhiều giải thưởng điện ảnh quốc tế như giải  FIPRESCU                    tại Liên hoan phim Palm Springs, đạo diễn xuất sắc tại  Liên                    hoan phim Chicago (Mỹ) và tại Liên hoan phim Cape Town  (Nam                    Phi), Kỳ Lân Vàng &#8211; giải thưởng cao nhất cho phim  truyện nhựa                    tại Liên hoan phim Amiens (Pháp), giải Đặc biệt tại  Liên hoan                    phim Amazonas (Brazil) và giải quay phim hay nhất tại  LHP châu                    Á Thái Bình Dương lần thứ 50.</p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/photoDucHuy.jpg"><img class="size-full wp-image-225 alignright" style="margin-left: 6px; margin-right: 6px; border: 1px solid black;" title="photoDucHuy" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/photoDucHuy.jpg" alt="" width="197" height="150" /></a>Nhà                    văn Nguyễn Trọng Tín, vốn là bạn văn, và là người  ngưỡng mộ                    tài năng của Sơn Nam, nhận xét: &#8220;Nhà văn Sơn Nam là  một                    trong hai người còn lại hiểu biết nhiều về Nam bộ. Ông  có nhiều                    cống hiến cho văn chương và là người đứng đầu trong số  các nhà                    văn Nam bộ.</p>
<p>Bên cạnh sự nghiệp sáng tác, ông còn  rất nhiều                    công trình khảo cứu và sưu tập về văn hóa Nam bộ. Ðặc  biệt,                    ông là người hiểu biết quá trình hình thành dải đất  Nam bộ.                    Từ hiểu biết uyên bác đó ông lại thể hiện bằng những  trang viết                    rất giản dị khiến nhiều tầng lớp độc giả đều đọc và dễ  hiểu                    tác phẩm của ông&#8221;.</p>
<p>Sách vở, văn chương là cả niềm đam mê  suốt                    cuộc đời ông &#8211; Ảnh: Đức Huy</p>
<p>Nhà văn Sơn Nam, &#8220;ông già Nam bộ&#8221;,          người được mệnh danh là nhà &#8220;Nam bộ học&#8221;           qua đời lúc 13g ngày 13-8 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định,  TP.HCM, thọ          83 tuổi.</p>
<p style="text-align: right;"><span style="font-size: xx-small;">(ÐTNVN)</span></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/s%c6%a1n-nam-nha-van-c%e1%bb%a7a-vung-d%e1%ba%a5t-m%e1%bb%9bi-nam-b%e1%bb%99/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nam bộ đất và người &#8211; giới thiệu Cao Văn Lâu</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/nam-b%e1%bb%99-d%e1%ba%a5t-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-cao-van-lau/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/nam-b%e1%bb%99-d%e1%ba%a5t-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-cao-van-lau/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 May 2010 07:48:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Cao Văn Lâu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=101</guid>
		<description><![CDATA[Nam bộ là mảnh đất có quá trình hình thành và phát triển trẻ nhất so với Bắc bộ và Trung bộ (xưa nay quen gọi hai miền: Nam và Bắc). Công cuộc “Nam tiến” khởi công từ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (còn gọi là Kính) từ năm 1698. Kể từ đó lịch [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p>Nam bộ là mảnh đất có quá trình hình thành và phát  triển                      trẻ nhất so với Bắc bộ và Trung bộ (xưa nay quen gọi  hai miền:                      Nam và Bắc). Công cuộc “Nam tiến” khởi công từ Lễ  Thành hầu                      Nguyễn Hữu Cảnh (còn gọi là Kính) từ năm 1698. Kể từ  đó lịch                      sử khai hoang lập ấp mở rộng diện tích đất nước kéo  đến tận                      cùng đất Mũi Cà Mau.</p>
<p>Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển Nam  bộ là một                      trong những công trình khởi xướng của Hội Khoa học  Lịch sử                      thành phố Hồ Chí Minh. Mỗi bài viết trong tập sách  phản ảnh                      một phần về đất nước, con người gắn liền với phong  tục tập                      quán, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng… của người Nam  bộ. Nhiều                      bài viết về Sài Gòn (TP.HCM), Vĩnh Long, Cần Thơ,  Đồng Tháp                      Mười, Bình Dương, Bình Phước, Đồng bằng sông Cửu  long, Hà                      Tiên (Kiên Giang), Bà Rịa – Vũng Tàu, Bạc Liêu, Trà  Vinh,                      Long An, Đồng Nai với 51 bài viết. Đáng chú ý có hai  bài viết                      về lịch sử và cũng là cái nôi văn hóa rất đặc trưng  Nam bộ                      đó là loại hình nghệ thuật Cải lương bản Dạ cổ hoài  lang gắn                      liền với tên tuổi Cao Văn Lầu.</p>
<p>Trần Đức Thuận với “Cuộc đời Cao Văn Lầu và nguyên  nhân ra                      đời bản Dạ cổ hoài lang” đã khắc họa chân dung Cao  Văn Lầu,                      người sinh ra trong gia đình ông Cao Văn Giỏi (Chín  Giỏi),                      “gồm hai ông bà và sáu đứa con” – một trong “20 gia  đình nông                      dân ở Thuận Lễ (Tân An) vì không chịu nổi cảnh hà  khắc ở địa                      phương nên đã lìa bỏ quê hương dìu dắt về phía Nam  để tìm                      nơi sinh sống” đến Gia Hội (Bạc Liêu), khi ấy Cao  Văn Lầu                      4 tuổi. Năm 1900, vì gia đình túng quẫn, Cao Văn Lầu  được                      cha gửi đến “Sư trụ trì chùa Vĩnh Phước An” cho Hòa  thượng                      Minh Bảo, “ngày ngày tụng kinh kệ, đêm đêm học chữ  Nho”. Năm                      1913 ông cưới vợ là cô Trần Thị Tấn. Trong khoảng  thời gian                      này, ông đã “sáng tác được một bản ngắn mang tên là  Bá điểu                      sau đổi lại Thu phong gồm tám câu nhịp 4, bản này  sau đó được                      soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt lời ca Mừng khi gặp bạn,  ghi lại                      trong sách Ca nhạc cổ điển” được thầy là Nhạc Khị  ghi nhận.                      Năm 1917 ông đã sáng tác thêm một nhạc khúc gồm 22  câu rất                      độc đáo, nhưng chưa kịp sửa chữa để trình thầy thì  gặp chuyện                      buồn. Người vợ trẻ từ lúc về nhà chồng đến nay đã  tròn ba                      năm mà chưa có dấu hiệu thai nghén, đã bị đuổi ra  khỏi nhà                      vì tội “thất xuất”. Thương vợ, ông đã lén gặp bà và  sau đó                      ông sửa chữa lại 22 câu do ông sáng tác trước đây,  rồi bỏ                      bớt còn 20 câu nhịp đôi và “tiếp tục đặt lời ca theo  đúng                      chủ đề Chinh phụ vọng chinh phu do thầy đã chọn. Đặt  được                      vài câu thì hình bóng của người vợ hiền lại lóe lên  rõ mồn                      một trong tâm trí, ông than vãn dặn dò: “Lòng dầu  say ong                      bướm, xin cũng đừng phụ nghĩa tào khang” … Sư Nguyệt  Chiếu                      sau đó lý giải và đặt tên: “Cái chủ đề Chinh phụ  vọng chinh                      phu mà nhạc sư (Nhạc Khị) đưa ra để làm kim chỉ nam  cho các                      đồ đệ sáng tác là căn cứ vào nội dung của bản Nam ai  Tô Huệ                      chức cẩm hồi văn, theo nội dung này thì nàng Tô Huệ  đêm đêm                      ngồi dệt gấm, hễ nghe tiếng trống vọng về lại liên  tưởng đến                      hình bóng của chồng. Bản nhạc và lời ca của chú Lầu  tuy cũng                      còn vài điểm bất nhất nhưng cái chung vẫn diễn tả  được tâm                      tư của nàng Tô Huệ. Vậy cứ theo tích này mà đặt tên  chung                      cho cả bản nhạc và lời ca của cháu là Dạ cổ hoài  lang”.</p>
<p>“Từ đó đến năm 1974, Cao Văn Lầu tiếp tục sáng tác  thêm được                      10 bản nữa… riêng bản Dạ cổ hoài lang không dừng lại  ở nguyên                      dạng như các bản cổ nhạc khác mà dần dần biến đổi  hình thức,                      phát triển thành bản Vọng cổ làm thay đổi một phần  lớn bộ                      mặt Cải lương. Sau đó “được phát triển thành nhịp 4,  nhịp                      8, nhịp 16, nhịp 32… và được gọi tên là Vọng cổ một  bản trụ                      cột của cải lương Nam bộ. Tác giả Trần Phước Thuận  đã xác                      định: “Ngày 15 tháng 8 (âm lịch) năm Mậu Ngọ (nhằm  ngày 19-09-1918)                      là ngày ra đời của bản Dạ cổ hoài lang”.</p>
<p>Vài nét về sự ra đời nghệ thuật cải lương với Vọng  cổ để hiểu                      thêm về bi kịch tình yêu đã hình thành một Dạ cổ  hoài lang                      trở nên bất hủ chính là vì mối tình chung thủy của  Cao Văn                      Lầu – ông tổ của cải lương dường như lay động đất  trời, nên                      “Một thời gian sau người vợ trẻ lại báo tin – nàng  đã có thai,                      đây là cái tin vui có thể nói là vui nhất trong đời  của nhạc                      sĩ Cao Văn Lầu”.</p>
<p>Tập sách “Nam bộ đất và người” (tập 2) dày gần 480  trang do                      nhóm tập thể Phó giáo sư Huỳnh Lứa, Tiến sĩ: Đặng  Văn Thắng,                      Hồ Hữu Nhựt, Quách Thu Nguyệt, Trần Thị Mai do Hội  Khoa học                      Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Nhà xuất  bản Trẻ                      thực hiện. Trong đó có nhiều bài viết phong phú về  sử liệu                      của những nhà nghiên cứu sử, văn học dân gian… về  “Đất Hà                      Tiên và dòng họ Mạc&#8221;; Những nhận định về “Họ Mạc đúc                       tiền”; &#8220;Địa đạo Củ Chi – Huyền thoại làng ngầm&#8221;…                      hay về “Nhà thơ mù yêu nước đất Đồng Nai anh dũng&#8221;;  &#8220;Lực                      lượng Thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh  tham gia                      xây dựng Đắc Lắc&#8221; (Nam Tây Nguyên)… hay về văn hóa  tín                      ngưỡng như: “Yếu tố văn hóa Việt trong trang trí tại  các cơ                      sở tín ngưỡng của người Hoa ở thành phố Hồ Chí  Minh&#8221;;                      &#8220;Đền thờ Bác Hồ ở Nam bộ&#8221;; &#8220;Múa dân gian các                      tộc người Mạ, Chơ Ro, Xtiêng vùng Đông Nam bộ”… hay  văn hóa                      sông nước Cần Thơ, Đồng Tháp Mười…</p>
<p style="text-align: right;">(Sưu tầm)</p>
<p><strong>Giới thiệu Cao Văn Lâu</strong></p>
<div id="attachment_102" class="wp-caption alignleft" style="width: 260px"><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/250px-CaoVanLau.jpg"><img class="size-full wp-image-102 " style="border: 1px solid black; margin-left: 5px; margin-right: 5px;" title="250px-CaoVanLau" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/250px-CaoVanLau.jpg" alt="" width="250" height="185" /></a><p class="wp-caption-text">Nhạc sĩ Cao Văn Lầu</p></div>
<p>Cao Văn Lầu sinh ngày <a title="22 tháng 12" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/22_th%C3%A1ng_12">22  tháng 12</a> năm <a title="1892" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1892">1892</a> tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với  làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện <a title="Vàm Cỏ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C3%A0m_C%E1%BB%8F">Vàm  Cỏ</a>, tỉnh <a title="Long  An" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_An">Long An</a>.</p>
<p>Khi Cao Văn Lầu được bốn tuổi (năm 1896), ông Chín Giỏi (chưa rõ tên  thật, cha Cao Văn lầu) vì nghèo, vì bị áp bức nên đã cùng vợ và sáu đứa  con nhỏ xuống ghe, tìm đất khác sinh sống.</p>
<p>Buổi đầu, ông Chín Giỏi đến tá túc trên đất của một người bà con ở  Gia Hội (<a title="Bạc Liêu" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A1c_Li%C3%AAu">Bạc Liêu</a>). Sau chín tháng đi làm mướn cật lực mà  không đủ ăn, gia đình ông lại phải dời sang Xà Phiên (nay thuộc <a title="Long Mỹ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_M%E1%BB%B9">Long  Mỹ</a>, tỉnh <a title="Hậu Giang" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BA%ADu_Giang">Hậu Giang</a>), khẩn hoang làm ruộng. Khoảng một năm  sau, hơn 40 công đất, nhờ khó nhọc mới có được, bị địa chủ chiếm lấy.  Nhờ người giới thiệu, gia đình ông Chín Giỏi dọn về Họng Chàng Bè (<a title="Giá Rai" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1_Rai">Giá Rai</a>,  Bạc Liêu) để tiếp tục khẩn hoang, nhưng rồi số đất này về sau cũng về  tay người khác.</p>
<p>Xót cảnh trắng tay của ông Giỏi, hương sư Chơn ở làng Vĩnh Lợi tổng  Thạnh Hòa, cho ông cất một căn chòi lá ở trên đất công điền gần chùa  Vĩnh Phước An (nay thuộc phường 2, thị xã Bạc Liêu). Ở đó, vợ chồng ông  và các con phải đi làm thuê, đi câu để chạy ăn từng bữa.</p>
<p>Hòa thượng Minh Bảo (? &#8211; 1912), trụ trì chùa Vĩnh Phước An, thấy gia  đình ông Chín Giỏi vất vả quá mà không đủ ăn, nên đề nghị cho Cao Văn  Lầu, lúc đó mới 8 tuổi, vào chùa ở để chia sẻ gánh nặng. Kể từ đó chú bé  Lầu, vừa kinh kệ, vừa được nhà sư dạy cho <a title="Chữ Nho" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_Nho">chữ Nho</a>.</p>
<p>Năm 1903, nhờ cha đến xin, Cao Văn Lầu được phép trở về nhà để học  chữ Quốc ngữ. Nhưng chỉ học đến &#8220;lớp nhì năm thứ hai&#8221; (<em>Cours moyen 2e  année</em>) tức lớp 4 ngày nay, thì ông Lầu phải thôi học vì nhà gặp  thêm cảnh khó: anh đi ở rể, chị lấy chồng, cha già yếu&#8230; Vậy là, năm 15  tuổi (1907), Cao Văn Lầu phải thay cha và anh chị đi làm những việc  nặng nhọc để nuôi gia đình.</p>
<p>Lúc bấy giờ tại xóm Rạch Ông Bổn có một thầy đàn nổi tiếng tên Lê Tài  Khí, tục gọi Hai Khị hay Nhạc Khị. Ông thầy này bị mù cả hai mắt thêm  có tật ở chân<sup id="cite_ref-0"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_V%C4%83n_L%E1%BA%A7u#cite_note-0">[1]</a></sup>,  nhưng ngón đàn của ông thật điêu luyện<sup id="cite_ref-1"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_V%C4%83n_L%E1%BA%A7u#cite_note-1">[2]</a></sup>.</p>
<p>Năm 1908, Cao Văn Lầu nhờ cha dẫn đến thầy Hai Khị để xin học đàn mỗi  đêm. Nhờ yêu thích và siêng năng, ông mau chóng sử dụng thành thạo các  loại nhạc cụ như đàn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ  nồng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.</p>
<p>Năm 1912, ông bắt đầu đi hát với Sáu Thìn và cô Phấn với bài Tứ đại  oán <em>Bùi Kiệm thi rớt</em>.</p>
<p>Năm 21 tuổi (1913), Cao Văn Lầu vâng lệnh cha mẹ đi cưới vợ, đó là cô  Trần Thị Tấn, một cô gái nết na ở điền Tư Ô (Chung Bá Khánh).</p>
<p>Khoảng thời gian này, ông sáng tác được một bản ngắn mang tên <em>Bá  điểu</em>, sau đổi lại <em>Thu phong</em>, gồm tám câu nhịp bốn. Sau nữa,  bản nhạc này được soạn giả Trịnh Thiên Tư đặt thêm lời ca và có tên mới  là <em>Mừng khi gặp bạn</em>.</p>
<p>Năm 1917, ông sáng tác thêm một khúc gồm 22 câu, theo một chủ đề của  thầy Nhạc Khị đề xướng là &#8220;Chinh phụ vọng chinh phu&#8221; (chủ đề được rút ra  từ bản Nam ai &#8220;Tô Huệ chức cẩm hồi văn&#8221;) nhưng chưa kịp sửa chữa và  trình thầy thì gặp nghịch cảnh đau lòng. Vợ ông đã ba năm mà vẫn chưa có  dấu hiệu thai nghén, theo tục xưa, cha mẹ buộc ông phải trả vợ về nhà  cha mẹ ruột.<sup id="cite_ref-2"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_V%C4%83n_L%E1%BA%A7u#cite_note-2">[3]</a></sup></p>
<p>Khoảng một năm sau, trong tâm trạng nhớ thương vợ, bản nhạc trên được  đem ra soạn lại. Nghe bạn đồng môn tên Ba Chột góp ý, ông bỏ bớt 2 câu  trùng lắp, bài nhạc còn chẵn 20 câu nhịp đôi.</p>
<p><a title="Tết Trung Thu" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%BFt_Trung_Thu">Tết Trung Thu</a> năm <a title="1918" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1918">1918</a> (15 tháng  8 âm lịch năm Mậu Ngọ, nhằm ngày 19 tháng 9 năm 1918)<sup id="cite_ref-3"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_V%C4%83n_L%E1%BA%A7u#cite_note-3">[4]</a></sup>,  ông cùng các bạn đến thăm thầy, luôn tiện trình bày bản nhạc chưa có  tên trên. Nghe xong, thầy Nhạc Khị hết sức khen ngợi.</p>
<p>Đêm đó có nhà sư Nguyệt Chiếu cùng tham dự, thầy Nhạc Khị liền nhờ  nhà sư đặt tên cho bản nhạc. Nhà sư nói:&#8221;&#8230; tuy nhạc và lời ca còn vài  điểm bất nhất, nhưng cái chung vẫn diễn tả được tâm tư của nàng Tô Huệ<sup id="cite_ref-4"><a href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_V%C4%83n_L%E1%BA%A7u#cite_note-4">[5]</a></sup>.  Vậy cứ theo tích này mà đặt tên cho bài là &#8220;Dạ cổ hoài lang&#8221; (Nghe  tiếng trống đêm nhớ chồng).&#8221; Kể từ đêm đó, bài ca này được loan truyền  nhanh chóng.</p>
<p>Năm 1919, ông Lầu làm nhạc công trong gánh hát cải lương của Ba Xú  (Bạc Liêu).</p>
<p><a title="Cách mạng tháng Tám" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%A1ch_m%E1%BA%A1ng_th%C3%A1ng_T%C3%A1m">Cách mạng tháng Tám</a> thành công, ông  tham gia Mặt trận Liên Việt ở ấp Vĩnh Phước, xã Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.</p>
<p>Năm 1947, ông nhận nhiệm vụ đặc biệt là cứu và đã cứu được một số cán  bộ bị thực dân Pháp bắt.</p>
<p>Từ 1918 đến năm 1974, ngoài bản &#8220;Dạ cổ hoài lang&#8221;, mà sau này phát  triển thành bản &#8220;vọng cổ&#8221;, làm thay đổi một phần bộ mặt cải lương; ông  Cao Văn Lầu còn sáng tác thêm 10 bản nữa, nhưng đa phần chỉ lưu hành ở  Bạc Liêu.</p>
<p>Ông mất lúc 13 giờ ngày <a title="13 tháng 8" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/13_th%C3%A1ng_8">13  tháng 8</a> năm <a title="1976" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/1976">1976</a> tại <a title="Thành phố Hồ Chí Minh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh">Thành phố Hồ Chí Minh</a>, thọ 84 tuổi.</p>
<p style="text-align: right;">(Nguồn: vi.wikipedia.org)</p>
</div>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/nam-b%e1%bb%99-d%e1%ba%a5t-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gi%e1%bb%9bi-thi%e1%bb%87u-cao-van-lau/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những nét văn hoá đặc sắc của nông dân Nam Bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/nh%e1%bb%afng-net-van-hoa-d%e1%ba%b7c-s%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-nong-dan-nam-b%e1%bb%99/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/nh%e1%bb%afng-net-van-hoa-d%e1%ba%b7c-s%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-nong-dan-nam-b%e1%bb%99/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 23 May 2010 07:40:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Nam bộ]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa Nam Bộ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/?p=97</guid>
		<description><![CDATA[Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú. Nam bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn hóa của [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<blockquote style="text-align: justify;">
<div>
<p>Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc  Việt Nam                      thì mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa  riêng rất                      độc đáo, đa dạng và phong phú. Nam bộ tuy là vùng  đất tổ tiên                      ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưng văn  hóa của                      nông thôn Nam bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của  cộng đồng                      dân tộc Việt Nam có hơn 4000 năm lịch sử.</p>
<p>Nam bộ từ miền đất hoang vu rừng thẳm, nhiều sông  rạch, đầm                      lầy &#8220;muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lộí như bánh canh ,  trên                      rừng nhiều thú dữ, rắn độc và động vật quý. Dưới  nước tôm                      cá bạt ngàn, còn có cá sấu, cá mập. Người nông dân  Nam bộ                      lao động cần cù, dũng cảm. Thế hệ sau tiếp nối thế  hệ trước                      cải tạo tự nhiên, phòng chống thú dữ trên rừng, dưới  nước                      để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Ðể tồn tại và phát  triển giống                      nòi, sản xuất và bảo vệ sản xuất tất yếu các gia  đình nông                      dân trong họ tộc, trong xóm làng liên kết lại (hợp  tác) lao                      động đổi công phá rừng làm ruộng rẫy, đào sông rạch,  làm đường                      giao thông: săn bắn thú dữ, cưu mang đùm bọc &#8220;thương                       nguời như thể thương thân&#8221; giúp đỡ nhau chén cơm  manh                      áo, con giống, hạt giống, đúng với câu ca truyền  miệng gần                      như nông dân Nam bộ ai cũng thuộc lòng &#8220;một miếng  khi                      đói bằng cả gói khi no&#8221; trong sản xuất và đời sống.  Tuy                      cuộc sống vô cùng cơ cực ngày ngày lao động trên  đồng ruộng,                      đêm đêm nam nữ quây quần giã gạo, chài đôi, chải ba,  rồi ca                      hát hoặc hò đối đáp dưới ánh trăng, tình quê tuy mộc  mạc nhưng                      thấm đậm nghĩa tình.</p>
<p><a href="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/dongque.jpg"><img class="alignright size-full wp-image-98" style="border: 1px solid black; margin-left: 8px; margin-right: 8px;" title="dongque" src="http://thoangsaigon.com/wp-content/uploads/2010/05/dongque.jpg" alt="" width="237" height="170" /></a>Những                      người nông dân có mặt ở vùng đất Nam bộ này hơn 300  năm trước                      đây là những nông dân đến từ nhiều vùng ở miền  Trung, miền                      Bắc. Tuy buổi đầu lập nghiệp trên vùng đất hoang sơ  trăm đắng                      ngàn cay bời rừng thiêng nước độc, thú dữ, người  nông dân                      thiếu cả công cụ, phương tiện lao động&#8230; nhưng mọi  người                      kiên cường bám trụ &#8220;đến đây thì ở tại đây trăm năm  bám                      rễ xanh cây không về&#8221;. Bám rễ xanh cây không chỉ có  nghĩa                      lao động sáng tạo ra của cải vật chất trên nền nông  nghiệp                      phì nhiêu trù phú, mà sự xanh cây bám rễ còn có  nghĩa mối                      quan hệ giữa người với người từ bốn phương tụ hội  trên mảnh                      đất Nam bộ ấm áp tình người. Tấm lòng người nông dân  Nam bộ                      xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàng tha thứ cho  những ai                      biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thử kẻ  gian ác,                      điêu ngoa. Họ coi trọng nhân-nghĩa-trí-dũng-liêm,  lòng thương                      người bao la vô tận, nhưng rất ghét bọn gian tà,  tham nhũng,                      xu nịnh, những kẻ &#8220;tham phú phụ bần&#8221;. Nếu ai là                      người lương thiện có đạo đức làm người, sống trung  thực, nhân                      nghĩa dẫu từ đâu đến với xóm làng nào Nam bộ thì  cũng được                      nông dân đón tiếp thân tình theo đúng nghĩa &#8220;tứ hải  giai                      huynh đệ&#8221;, sẵn sàng cưu mang giúp đỡ người đói rét,  bệnh                      tật &#8220;anh em như thể tay chân&#8221; hay là &#8220;Bầu ơi                      thương lắy bl cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung  một giàn&#8221;.</p>
<p>Nền kinh tế Nam Bộ ngày càng phát triển, đường giao  thông                      ngày càng thuận lợi, sự giao lưu kinh tế, văn hóa,  xã hội                      của nông dân các làng quê ngày càng mở rộng, các  phong tục,                      tập quán từ việc ăn, ở, giao tiếp, sinh hoạt văn  hóa, lễ hội                      đến đám cưới, đám tang&#8230; của nông dân Nam bộ cơ bản  là giống                      nhau. Nhưng nét riêng của miền Ðông, miền Tây và mỗi  tỉnh,                      mỗi làng quê về tính cách, tập quán, mỹ tục cũng có  khác nhau.                      Không phâi ngẫu nhiên mà có câu ca &#8220;Cà Mau đi dễ khó                       về, trai đi có vợ, gái về có con&#8221;. Trai đi có vợ,  gái                      về có con ở đây không chỉ có &#8220;đất quê ta mênh mông&#8221;                      hoặc đường đi cách trở sơn khê mà bởi đất lành chim  đậu, sự                      lưu luyến về vùng đất phì nhiêu dễ dàng sản xuất tạo  ra của                      cải, xây dựng cuộc sống, hơn nữa là tình người nhân  hậu thủy                      chung, &#8220;trai cũng dễ mến mà gái cũng dễ thương&#8221;                      Hay như câu ca dao &#8220;Cần Thơ gạo trắng nước trong, ai                       đi đến đó lòng không muốn về&#8221;. Cần Thơ không phải  chỉ                      có gạo trắng nước trong mà còn là sự giao lưu văn  hóa, xã                      hội hài hòa lịch thiệp, đa cảm đa tình. Người Cần  Thơ mến                      khách nên khách cũng mến người. Nếu ai đến bến Ninh  Kiều từ                      xa xưa cũng &#8220;ngựa xe như nước áo quần như nêm&#8221; và                      bây giờ càng thêm lộng lẫy, phố phường nhộn nhịp.  Ðêm đêm                      tàu thuyền san sát bên sông, có cả thuyền văn hóa  lưu động,                      các nhóm tài tử phục vụ đủ các hạng người tao nhân  mặc khách.                      Chính vì phong cảnh hữu tình, quyến rũ làm chạnh  lòng quân                      tử, thuyền quyên mà &#8220;đi không nỡ, ở cũng đành&#8221;.                      Nói về hoạt động văn hóa, văn nghệ nhất là đờn ca  tài tử thì                      không riêng ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ mà gần như đều  khắp các                      làng quê Nam bộ, anh nông dân đi cày chị nông dân đi  cấy cũng                      có thể hát, hò và ca vọng cổ được.</p>
<p>Tinh thần yêu nước là đỉnh cao của văn hóa. Lúc  bình thường                      trong cuộc sống nông dân có thể có vui, có buồn thậm  chí to                      tiếng với nhau vì một lý do nào đó, nhưng khi đất  nước có                      giặc ngoại xậm thì người nông dân đoàn kết lại sẵn  sàng đánh                      giặc cứu nước. Ðặc biệt là từ khi có Ðảng, có Bác Hồ  lãnh                      đạo cách mạng Việt Nam, nông dân Nam bộ cũng như  nông dân                      cả nước được Ðảng, được Hội Nông dân giáo dục, tổ  chức và                      hướng dẫn đấu tranh thì nông dân sục sôi lòng căm  thù thực                      dân, đế quốc và tay sai; lòng yêu nước được khơi dậy  và phát                      huy, ý chí cách mạng càng mạnh mẽ, nên họ sẵn sàng  tham gia                      cách mạng. Ðiều đó minh chứng là tổ chức Hội Nông  dân (Nông                      hội đỏ) các tỉnh Nam bộ từ Cao Lãnh, Sa Ðéc, Cần  Thơ, Vĩnh                      Long, Bến Tre, Mỹ Tho, Gia Ðịnh, Thủ Dầu Một, Cà  Mau&#8230; đã                      ra đời cuối những lăm hai mươi. Suốt chặng đường dài  hơn 70                      năm đấu tranh gian khổ chống thực dân Pháp, Ðế quốc  Mỹ và                      tay sai, nông dân Nam bộ đã đóng góp to lớn sức  người, sức                      của cho sự nghiệp thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của  dân tộc                      và thời đại. Hơn 25 năm sau giải phóng miền Nam,  thống nhất                      nước nhà, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, nông  dân Nam                      bộ một lòng theo Ðảng &#8211; theo tư tưởng Hồ Chí Minh,  đã vượt                      qua bao khó khăn, thi đua lao động sản xuất và có  thể nói                      đi đầu trong thời kỳ đổi mới nông nghiệp nông thôn,  đóng góp                      xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ  tổ quốc.</p>
<p>Thực hiện nghị quyết của Ðảng và sự hướng dẫn của  Hội Nông                      dân, của các ngành, những năm qua nông dân Nam Bộ  chẳng những                      phát huy nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc mà từng  bước xây                      dựng nền văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa. Cuộc  vận động                      của Hội Nông dân xây dựng &#8220;gia đình tiêu chuẩn&#8221;                      trước đây và cuộc vận động &#8220;xây dựng gia đình nông  dân                      văn hóa&#8221;, tham gia xây dựng nông thôn, ấp bản làng  văn                      hóa hiện nay ngày càng có nhiều gia đình nông dân  hưởng ứng                      và đạt danh hiệu đó. Cuối năm 2000 Hội Nông dân các  địa phương,                      cơ sở cùng mặt trận, ngành văn hóa Thông tin, các  cấp chính                      quyền đã bình xét hộ nông dân đại tiêu chuẩn gia  đình văn                      hóa. Kết quả các tỉnh Nam Bộ mỗi nơi 5-7 vạn, có  tỉnh hơn                      10 vạn hộ &#8220;gia đình nông dân văn hóa&#8221;. Ðể đạt được                      gia đình nông dân văn hóa, cán bộ hội viên nông dân  phải phấn                      đấu làm nhiều việc tốt ích nước lợi nhà, cụ thể là  thực hiện                      tốt các phong trào cách mạng theo sự hướng dẫn của  Hội Nông                      dân Việt Nam. Và, Hội Nông dân các địa phương, cơ sở  ở Nam                      bộ đã phối hợp với các ngành, các nhà khoa học, các  doanh                      nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng, cùng chung  lo nâng                      cao dân trí, kiến thức khoa học, vốn, vật tư nông  nghiệp cho                      nông dân để thi đua sản xuất làm giỏi làm giàu, tổ  chức các                      phong trào hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể  thao,                      tổ chức các hội thi kiến thức nhà nông, hội trại nhà  nông,                      nhà nông đua tài, liên hoan nghệ thuật nông dân, vận  động                      nông dân tham gia kinh tế hợp tác hợp tác xã&#8230;</p>
<p>Các phong trào cách mạng và vận động xây dựng gia  đình nông                      dân văn hóa còn nhằm từng bước khắc phục những phong  tục,                      tập quán lạc hậu trong sản xuất và đời sống nông  dân. Ðồng                      thời, khắc phục những tồn tại ấy trên cơ sở không  ngừng nâng                      cao dân trí, kiến thức khoa học, phát triển kinh tế,  tạo việc                      làm, nâng cao đời sống vật chất, đời sống văn hóa,  làm cho                      hàng triệu nông dân và làm cho mảnh đất Nam Bộ giàu  truyền                      thống cách mạng, đằm thắm thủy chung, nghĩa tình mãi  mãi rực                      rỡ, ngát hương trong vườn hoa đậm đà bản sắc văn hóa  Việt                      Nam.</p>
<p style="text-align: right;">(Theo Tạp chí Nông thôn mới)</p>
</div>
</blockquote>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/nh%e1%bb%afng-net-van-hoa-d%e1%ba%b7c-s%e1%ba%afc-c%e1%bb%a7a-nong-dan-nam-b%e1%bb%99/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tính cách người Nam bộ</title>
		<link>http://thoangsaigon.com/2010/05/tinh-cach-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/</link>
		<comments>http://thoangsaigon.com/2010/05/tinh-cach-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 May 2010 06:03:56 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Người Nam Bộ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thoangsaigon.com/wp/?p=14</guid>
		<description><![CDATA[Do nguồn gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường thiên nhiên đã hình thành nên tính cách người Nam Bộ. Ngoài tính hiếu khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu, người Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân trọng như tính [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><a href="http://thoangsaigon.com/wp/wp-content/uploads/2010/05/10281.jpg"><img class="alignright size-full wp-image-44" style="border: 1px solid black; margin-left: 6px; margin-right: 6px;" title="10281" src="http://thoangsaigon.com/wp/wp-content/uploads/2010/05/10281.jpg" alt="" width="300" height="199" /></a>Do nguồn                    gốc lịch sử, hoàn cảnh sống và tác động của môi trường  thiên                    nhiên đã hình thành nên tính cách người Nam Bộ. Ngoài  tính hiếu                    khách, tính bộc trực, mạnh mẽ , hào phóng và đôn hậu,  người                    Nam Bộ còn biết bao nét đẹp truyền thống đáng trân  trọng như                    tính nghĩa khí hào hiệp, tấm lòng nhân hậu, bao dung,  tư chất                    thông minh và giàu nghị lực. Đặc biệt phụ nữ miền Nam  rất đỗi                    vị tha, dịu dàng lại khéo tay, chiều chồng nhưng đáng  quý nhất                    là sự hy sinh cho chồng con, cho quê hương, đất nước.  Điều đó                    đã được minh chứng suốt quá trình hơn 300 năm lịch sử  của Nam                    Bộ.</p>
<p>Miền Nam đã trải qua chiến tranh, bom đạn ác liệt  nhưng miền                    Nam kiên cường, bất khuất và miền Nam xứng đáng với  danh hiệu                    &#8220;Thành đồng của Tổ quốc&#8221;. Dưới ánh sáng của nghị quyết                     Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta đang phát  huy nội                    lực nhằm làm dân giàu, nước mạnh, miền Nam sẽ cùng cả  nước tiến                    lên tạo cuộc sống ấm no, hạnh phúc.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tính bộc trực</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Trong dân gian còn lưu truyền câu &#8220;Ăn mặn nói ngay&#8221;                    để nói lên tính cách người miền Nam. Lý giải cho câu  thành ngữ                    này phải dựa trên cơ sở lịch sử và đời sống thực tế  Nam Bộ.                    Như đã nói, họ là những lưu dân đến đây chủ yếu bằng  đường biển,                    suốt hành trình lênh đênh giữa sóng to gió lớn để  chống lại                    giá rét, chống lại những cơn cuồng nộ của biển cả&#8230;  buộc họ                    phải tìm cách đảm bảo mạng sống và sinh tồn. Để lặn  sâu dưới                    nước, thường người ta hay uống nước muối; giữ cá được  lâu thì                    muối hoặc làm mắm&#8230; Dần dần mà khẩu vị của người đi  biển trở                    nên mặn mà hơn so với người ở đất liền. Trong bữa ăn  truyền                    thống của người miền Nam không bao giờ thiếu được món  kho như:                    thịt kho, cá kho, mắm kho hoặc cá muối chiên hay khô  mặn, ba                    khía&#8230; Đặc biệt bất kỳ nhà giàu có hay nghèo hèn, dù  bữa ăn                    bình dân hay tiệc tùng lễ lạt giữa nhà hàng sang trọng  đều có                    chén nước mắm trong mâm thức ăn dùng làm nước chấm.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tính mạnh mẽ</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người miền Nam trong lịch sử khẩn hoang Nam Kỳ là  những người                    luôn luôn đương đầu với nghịch cảnh, bởi thế họ không  có thì                    giờ để con cà con kê, nếu cần diễn đạt thì nói một  cách dứt                    khoát, ngắn gọn, trực tiếp và rõ ràng. Vì lênh đênh  giữa biển,                    sóng vỗ ì ầm, trời nước mênh mông nên tiếng nói của  con người                    bị át đi. Cho đến khi lên bờ khai khẩn thì đất rộng  người thưa,                    cây cối um tùm, phương thức lao động không phải tập  đoàn hay                    hợp quần mà thủ công &#8211; riêng lẻ, khi cần gọi nhau để  trao đổi                    thì phải hét to hoặc dùng tiếng động lớn làm ám hiệu  cho nhau,                    bởi vậy mà người miền Nam cho tới sau này vẫn còn ăn  to nói                    lớn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Tính đôn hậu</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Người miền Nam luôn chân tình, cởi mở và dễ hòa mình.  Xét trên                    góc độ khoa học, đó là sự hội nhập giao lưu và hòa  đồng giữa                    cộng đồng các dân tộc. Khi người Kinh đặt chân đến Nam  Kỳ thì                    ở đây đã có người Khmer, người Hoa sinh sống. Tuy  phong tục                    mỗi dân tộc mỗi khác nhưng tất cả như có một mẫu số  chung là                    tinh thần nhân ái. Trong ngôn ngữ miền Nam hiện nay  vẫn còn                    tồn tại những tiếng có nguồn gốc Khmer và Hoa như:  mình ên,                    cà tha, xiêm lo, xích xái, lì xì, thèo lèo, xí muội,  thò lò&#8230;                    Còn địa danh ở Nam Bộ có những tên đi vào lịch sử như:  Sa Đéc,                    Sóc Trăng, Bãi Xáu, Chắc Cà Đao&#8230;<br />
Thông thường mỗi khi giỗ chạp, Tết nhất hay mỗi khi  bày cỗ cúng                    kiến, người miền Nam ngoài việc dọn cỗ trên bàn thờ  ông bà,                    cha mẹ&#8230; còn có một mâm riêng được bày lên trước cửa  nhà để                    cúng gọi là &#8220;mâm đất đai&#8221;. Mâm thức ăn này để cúng                    các bậc tiền hiền đã có công khai phá vùng đất hiện  tại cùng                    những người khuất mặt khuất mày đã bỏ mạng nơi đây mà  không                    nơi nương tựa. Trước khi khấn vái ở bàn thờ gia tiên  thì gia                    chủ phải thành tâm trước &#8220;mâm đất đai&#8221;, xem như một                    thủ tục trình báo với &#8220;sở tại&#8221;. Điều này nói lên tấm                    lòng người miền Nam nhân ái, vị tha, giàu tình người  mà bà con                    ta gói gọn trong hai tiếng &#8220;biết điều&#8221;.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Những người dân hiếu khách</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Những cư dân Đàng Ngoài từ chỗ có làng xã, sinh hoạt  lề thói                    nhiều đời đến nơi ở mới tứ cố vô thân lại thêm phong  thổ khắc                    nghiệt&#8230; đã làm cho họ trở nên bản lĩnh và đặc biệt  là rất                    hiếu khách. Hiếu khách có lẽ là nét đặc trưng, là cá  tính độc                    đáo của người miền Nam, bởi họ rất cần người để tâm  sự, để giãi                    bày những nỗi niềm sâu kín hoặc để uống với nhau ly  rượu giải                    sầu &#8211; cái sầu ly hương &#8211; hay để hàn huyên chuyện xứ sở  Đàng                    Ngoài, nơi quê cha đất tổ. Trong sinh hoạt láng giềng  Nam Bộ                    hiện tại, ta thấy có nhiều tiệc tùng, nhậu nhẹt, đám  cưới, đám                    giỗ, thôi nôi, đầy tháng, tân gia&#8230; mà người được mời  ít khi                    từ chối, mặc dù hiểu rằng &#8220;ăn bữa giỗ lỗ bữa cày&#8221;.                    Họ đến đó không phải vì rượu thịt, vì miếng ngon vật  lạ mà vì                    &#8220;phải quấy&#8221; &#8211; nói theo tiếng bà con miền Nam hay nói.                    Ai không đi, không dự được thì gởi bao thư, lễ vật và  xin cáo                    lỗi; còn nếu như làm thinh, không có &#8220;phản hồi&#8221; gì                    hết là &#8220;có vấn đề&#8221;! Từ những bàn tiệc này mà đôi khi                    nảy sinh những quan hệ tình cảm mới như: kết nghĩa  thông gia,                    kết nghĩa tri âm tri kỷ hoặc kết nghĩa anh em&#8230;</p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: xx-small;">(Sưu tầm)</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://thoangsaigon.com/2010/05/tinh-cach-ng%c6%b0%e1%bb%9di-nam-b%e1%bb%99/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

